news
Xuất bản: Chủ nhật, 23/8/2026, 06:39 (GMT+7)

 

thumbnail-ok_1787287153.jpg

 

Quán triệt và thực hiện Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Bài viết tập trung nghiên cứu học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; không những có ý nghĩa lịch sử mà còn cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm quý báu để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức thực sự là công bộc của dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đấu tranh loại bỏ những thói hư, tật xấu trong bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của Nhân dân, đảm bảo cho Nhà nước luôn giữ được bản chất cách mạng, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

ke-dong_1787297257.jpg

tit-1_1787286869.jpg

ke-dong_1787297257.jpg

Quá trình nghiên cứu để xây dựng nhà nước kiểu mới, là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Tư tưởng cốt lõi của nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác - Lênin tập trung vào mấy vấn đề cơ bản là: Bản chất dân chủ trong nhà nước; chủ thể quyền lực nhà nước phải thuộc về Nhân dân; bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi trong nhà nước pháp quyền. Đó là tư duy biện chứng để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển đất nước thịnh vượng, hùng cường.

ke-dong_1787297257.jpg

ok_1787297027.jpg
Năm 1946, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu- trái)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri tháng 2/1946 tại Khu Việt Nam học xá, tháng 1-1946 (Ảnh: Tư liệu-  phải). 

 ke-dong_1787297257.jpg

qh_1787297413.jpg
Hàng vạn nhân dân Hà Nội đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội. Hà Nội, ngày 05/01/1946 - Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh.

ke-dong_1787297257.jpg

tit-2_1787286920.jpg

ke-dong_1787297257.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giành chính quyền, xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta. Mặc dù trong di sản lý luận của Người không đề cập đến khái niệm nhà nước kiểu mới nói chung và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng, nhưng xét về nội dung khoa học của tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại thì những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới – nhà nước xã hội chủ nghĩa – đã thể hiện khá đầy đủ, sâu sắc những đặc trưng, nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Quan điểm, tư tưởng của Người về nhà nước pháp quyền thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin với kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kho tàng tri thức, kinh nghiệm của nhân loại, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải bao gồm các đặc trưng cơ bản sau: Một là, Nhà nước Việt Nam mới là nhà nước quyền lực thuộc về Nhân dân. Đó là nhà nước mà trong đó các quyền tự do của con người được ghi nhận, được bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Hai là, Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam thể hiện ở hai phương diện: (1). Nhà nước ta chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; (2). Nhà nước ta mang tính nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Ba là, Nhà nước Việt Nam quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, pháp luật là của Nhân dân và để phục vụ Nhân dân, mọi quyền hạn, công lý “đều là nơi dân”; pháp luật là công cụ để củng cố nhà nước, duy trì trật tự xã hội.

ke-dong_1787297257.jpg

qh_1787298735.jpg
Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa I đã cử Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên thệ trước Quốc hội. Ảnh: TTXVN

ke-dong_1787297257.jpg

Quá trình đổi mới tư duy, bổ sung, hoàn thiện cả về lý luận cũng như thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đã được xác định ngày càng rõ hơn. Với việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, Đảng ta coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước.

Những thành quả to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền gần 80 năm qua đã góp phần ngày càng hoàn thiện hơn quan điểm lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Bên cạnh việc nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ trong nhà nước ấy tính giai cấp hòa quyện với tính nhân dân và tính dân tộc. “Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của Nhân dân, tức là của giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước, để thực hành dân chủ chuyên chính”, “Ở nước ta chính quyền là của Nhân dân, do Nhân dân làm chủ” (1). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề đặt ra là làm sao để tất cả quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân, Nhân dân thực sự là người làm chủ nhà nước và xã hội. Để Nhân dân thực hiện được quyền lực của mình thì phải giác ngộ để họ ý thức được quyền làm chủ của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả những người lao động. Vậy công nhân, nông dân, trí thức cách mạng cần nhận rõ rằng: Hiện nay, nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta, chứ không phải là những người làm thuê, làm mướn cho giai cấp bóc lột như thời đế cuốc, phong kiến. Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, ấm lo, hạnh phúc cho mình... Đã là người chủ nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà... Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ” (1).

Từ những tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt ra vấn đề là phải xây dựng những thiết chế mới bảo đảm cho Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của họ trong xây dựng nhà nước, trong quản lý nhà nước và xã hội. Phải làm sao để Nhân dân có thực quyền, khắc phục được dân chủ hình thức.

 

ke-dong_1787297257.jpg

03-chinh_phu_lam_thoi-ok_1787298393.jpg

Ngày 3/11/1946, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khóa I họp tại Hà Nội đã cử Chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Chính phủ. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ được bầu ngày 3/11/1946. Ảnh: TTXVN

ke-dong_1787297257.jpg

Nhà nước kiểu mới là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật và kết hợp chặt chẽ với giáo dục tư tưởng, đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy được tầm quan trọng của tính hợp pháp của nhà nước, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội và hoạt động của nước, nhất là trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của Nhân dân. Trong nhận thức và trong hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư tưởng đức trị và pháp trị.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, trong tình thế cách mạng gặp muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng lãnh đạo thực hiện Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội để có cơ sở xây dựng Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam – tạo cơ sở pháp lý cao nhất trong hoạt động đối nội và đối ngoại, khẳng định sự ra đời hợp hiến của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước cộng đồng quốc tế.

ke-dong_1787297257.jpg

ngaybaucudautien_1787299054.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử các thành viên lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội ngày 6.1.1946. Ảnh tư liệu (nguồn Báo QK4).

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hơn 60 sắc lệnh, chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức hoạt động của nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.

Trong công tác lãnh đạo, Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, tăng cường pháp chế, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng các biện pháp phòng người, răn đe hơn là trừng trị, “phòng bệnh” hơn “chữa bệnh”. Trong bài nói chuyện với cán bộ ngành tư pháp năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Xét xử công minh, kịp thời là tốt, nhưng làm sao để không phải xét xử hoặc xét xử ngày càng ít đi thì tốt hơn. Từ quan điểm đó, Người chỉ đạo tăng cường các biện pháp phổ biến, tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho cán bộ, công chức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện tình cảm thương yêu, độ lượng, nhưng cũng thể hiện rất rõ thái độ nghiêm khắc đối với các khuyết điểm và vi phạm của cán bộ, công chức. Người khuyến khích, động viên và thể hiện thái độ khoan hồng với những người có khuyết điểm, có vi phạm nhưng biết tự phê bình, ăn năn, hối cải, quyết tâm sửa chữa; mặt khác, Người nghiêm khắc xử lý đối với những người không thật thà sửa chữa khuyết điểm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến vấn đề xây dựng pháp luật, quản lý xã hội theo pháp luật mà còn quan tâm đến nội dung của pháp luật, bảo đảm pháp luật trong nhà nước kiểu mới là pháp luật dân chủ, thể hiện được tự do, ý chí và lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Luật pháp của chúng ta… là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng… pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi của hàng triệu người lao động… pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Mặt khác, Người cũng nói rõ “giới hạn” của tự do, dân chủ rộng rãi, tự do ở đây sẽ là tự do trong kỷ luật, không phải là tự do vô chính phủ: “Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác. Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”.

ke-dong_1787297257.jpg

ctn-hcm-cum-2_1787300092.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II tại tiểu khu Trúc Bạch, khu phố Ba Đình, Hà Nội, tháng 5/1960 (ảnhtrái).
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được Quốc hội khóa 3 tín nhiệm bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại kỳ họp thứ nhất, ngày 3/7/1964 (ảnh phải).  Ảnh tư liệu

ke-dong_1787297257.jpg

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do Nhân dân và vì Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân, bảo đảm cho công dân làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là Nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của Nhân dân. Chính phủ chỉ có một mục đích là: hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” (1). Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, nhắc nhở các cơ quan của Đảng, Nhà nước phải hết sức chăm lo đến đời sống của Nhân dân, lãnh đạo tổ chức, giáo dục Nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm… Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước nếu không làm tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Người chỉ rõ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn, loại trừ được quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ những căn bệnh này đe dọa sinh mệnh của Đảng, của nhà nước kiểu mới và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng là “giặt nội xâm”, là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Sự quan tâm lo lắng đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc đấu tranh với “giặc nội xâm”, tẩy trừ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các căn bệnh khác trong bộ máy nhà nước kiểu mới được chứng minh trên những điểm sau đây:

Một là, trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành bài học đầu tiên là “Tư cách một người cách mệnh” để huấn luyện cán bộ, trong đó chú ý đến đạo đức và những phẩm chất của người cán bộ cách mạng.

Hai là, trong quá trình lãnh đạo xây dựng nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy những căn bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí và tiêu cực khác đã phát sinh trong bộ máy nhà nước kiểu mới. Ngày 17/10/1945, trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, Người nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh” (1). Trong thư, Người đã nhắc nhở những căn bệnh mới xuất hiện và cần phải khắc phục là: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nhấn mạnh: “Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung” (1).

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm để đề cập đến vấn đề đạo đức, phẩm chất của cán bộ như: Sửa đổi lối làm việc (1947), Phải tẩy sạch bệnh quan liêu (02/9/1950), Cần phải tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh (02/9/1951), Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu (1952), Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (31/7/1952), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (03/02/1969)…

Bốn là, trong hầu hết các bài nói, bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh đều đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của đội ngũ cán bộ.

ke-dong_1787297257.jpg

ctn-hcm-cum-3_1787301975.jpg

Sáng 7/4/2026, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm tuyên thệ nhậm chức. Ảnh: TTXVN
Sáng 06/04/2026, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã bầu ông Trần Thanh Mẫn làm Chủ tịch Quốc hội khóa XVI. Ảnh: TTXVN
Chiều 7/4/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng tuyên thệ nhậm chức. Ảnh: TTXVN.
Toàn cảnh kỳ họp tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: TTXVN

ke-dong_1787297257.jpg

Từ những dẫn chứng nêu trên cho ta thấy vấn đề đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham ô, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác quan trọng như thế nào trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Học tập, thực hành tư tưởng và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện kết tinh, tinh hoa của nhân loại trong lĩnh vực này với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những tư tưởng, quan điểm của Người là di sản lý luận vô giá của cách mạng Việt Nam, đồng thời có giá trị phổ biến đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì vậy chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, vận dụng đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên xây dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường./.

* Phó Chủ tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân lực–Nhân tài Việt Nam, Nguyên Viện Trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng
* * Trưởng Phòng TTTL Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 8, Nxb. CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.263.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 13, Nxb. CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.67.

Thiết kế: Chu Hống Châu

PV
  • Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo và cảnh báo sớm thiên tai

    Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo và cảnh báo sớm thiên tai

    Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc cảnh báo sớm thiên tai đang dần được triển khai một cách có hiệu quả, giúp phân tích lượng lớn dữ liệu khí tượng nhanh chóng và chính xác hơn so với phương pháp truyền thống. Các mô hình học máy có thể dự đoán xu hướng thời tiết dựa trên dữ liệu lịch sử và thời gian thực. Tuy nhiên, sử dụng AI một cách an toàn và hiệu quả cũng đặt ra nhiều thách thức.

  • Nghị quyết 57-NQ/TW - “Đột phá quan trọng hàng đầu” và động lực then chốt của tăng trưởng

    Nghị quyết 57-NQ/TW - “Đột phá quan trọng hàng đầu” và động lực then chốt của tăng trưởng

    Thực hiện thắng lợi Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là mệnh lệnh của thời đại. Khẳng định quan điểm này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải nêu rõ Nghị quyết số 57-NQ/TW phải trở thành động lực then chốt của tăng trưởng và năng lực chống chịu quốc gia; thật sự trở thành “đột phá quan trọng hàng đầu” và “động lực chính” của mô hình tăng trưởng mới.

  • Bà Lâm Diệu Linh: Gieo mầm Trà Việt là hành trình đánh thức lối sống xanh từ một chén trà

    Bà Lâm Diệu Linh: Gieo mầm Trà Việt là hành trình đánh thức lối sống xanh từ một chén trà

    Trong khuôn khổ chương trình “Hành trình Gieo mầm Trà Việt 2026” được tổ chức tại Trường Đại học Lâm nghiệp sáng ngày 8/4/2026 với các hoạt động trồng cây, thưởng trà và giao lưu về văn hóa trà Việt, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với bà Lâm Diệu Linh - Giám đốc Viet Link Tea, một trong những đơn vị khởi xướng và đồng hành cùng chương trình, về hành trình lan tỏa giá trị của trà Việt trong đời sống hiện đại.

  • Phát triển nông nghiệp đa giá trị, đưa kinh tế tuần hoàn trở thành trụ cột chiến lược

    Phát triển nông nghiệp đa giá trị, đưa kinh tế tuần hoàn trở thành trụ cột chiến lược

    ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp đa giá trị; tổ chức phát triển kinh tế dưới tán rừng, phát huy đa dụng giá trị hệ sinh thái rừng. Đồng thời đưa kinh tế tuần hoàn trở thành trụ cột chiến lược; vận hành thị trường carbon, tín chỉ carbon theo cam kết COP26 và mục tiêu Net Zero 2050.

  • GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương: Đào tạo nhân lực nông nghiệp - môi trường phải đi trước một bước trong kỷ nguyên số

    GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương: Đào tạo nhân lực nông nghiệp - môi trường phải đi trước một bước trong kỷ nguyên số

    Trong bối cảnh ngành nông nghiệp và môi trường đang đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, công tác tuyển sinh của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội không chỉ là câu chuyện quy mô đào tạo, mà còn phản ánh định hướng phát triển của một cơ sở giáo dục đại học đặc thù của ngành. Nhân mùa tuyển sinh năm 2026 sắp đến, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với GS, TS. Huỳnh Thị Lan Hương, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội về tầm nhìn đào tạo nhân lực tài nguyên - môi trường trong kỷ nguyên số.