news
Chuẩn hóa hoạt động thăm dò khoáng sản: Hoàn thiện nền tảng thực thi Luật Địa chất và Khoáng sản

Chuẩn hóa hoạt động thăm dò khoáng sản: Hoàn thiện nền tảng thực thi Luật Địa chất và Khoáng sản

Thứ hai, 22/6/2026, 06:53 (GMT+7)
logo Việc Quốc hội ban hành Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2025 đã mở ra một giai đoạn mới trong quản lý tài nguyên khoáng sản của Việt Nam. Tuy nhiên, để các quy định của luật thực sự đi vào cuộc sống, cần có hệ thống văn bản hướng dẫn đồng bộ, đặc biệt là các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục và biểu mẫu hành chính.
62-1725960391-a6_1781751814.jpg
Gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ còn có sự bổ sung các phương pháp mới như chụp ảnh thành lỗ khoan, phương pháp siêu âm, phương pháp xác định chiều sâu, thế nằm của các lớp đất đá dọc thành lỗ khoan… qua đó cung cấp các thông tin khá toàn diện, đầy đủ về cấu trúc địa chất trong lỗ khoan.

Trong bối cảnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Văn bản hợp nhất số 62/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư số 37/2025/TT-BNNMT và Thông tư số 04/2026/TT-BNNMT, quy định mẫu báo cáo, tài liệu, giấy phép và quyết định trong hoạt động thăm dò khoáng sản. Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn hóa hồ sơ, bảo đảm thống nhất quy trình quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương đối với hoạt động thăm dò khoáng sản.

Thống nhất toàn bộ hệ thống hồ sơ trong hoạt động thăm dò khoáng sản

Theo quy định, Thông tư điều chỉnh toàn bộ hệ thống biểu mẫu phục vụ giải quyết các thủ tục hành chính về thăm dò khoáng sản, bao gồm cấp mới, gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, trả lại giấy phép thăm dò; chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản; thu hồi giấy phép; công nhận kết quả thăm dò và các hoạt động thăm dò bổ sung. Đồng thời, văn bản cũng quy định mẫu báo cáo, tài liệu chuyên môn phục vụ quá trình triển khai các đề án thăm dò khoáng sản.

Một điểm đáng chú ý là lần đầu tiên toàn bộ các biểu mẫu liên quan đến hoạt động thăm dò được chuẩn hóa trong cùng một hệ thống văn bản. Từ văn bản đề nghị cấp giấy phép thăm dò, gia hạn giấy phép, cấp lại giấy phép, điều chỉnh giấy phép đến các biểu mẫu phục vụ chuyển nhượng quyền thăm dò, trả lại giấy phép hay công nhận kết quả thăm dò đều được quy định thống nhất. Điều này giúp hạn chế tình trạng áp dụng không đồng nhất giữa các địa phương, giảm sai sót trong quá trình lập hồ sơ và nâng cao tính minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính.

Đối với công tác quản lý nhà nước, việc chuẩn hóa biểu mẫu còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất và khoáng sản thống nhất trên phạm vi cả nước. Khi các thông tin về doanh nghiệp, tọa độ khu vực thăm dò, quy mô diện tích, thời gian thực hiện và kết quả thăm dò được chuẩn hóa ngay từ đầu vào, cơ quan quản lý sẽ dễ dàng hơn trong việc số hóa, chia sẻ và khai thác dữ liệu.

1743-thamdokhoangsan_1781752103.png
ảnh minh hoạ

Bổ sung các thủ tục mới theo Luật Địa chất và Khoáng sản sửa đổi

Một trong những nội dung quan trọng nhất của Văn bản hợp nhất số 62 là việc cập nhật các biểu mẫu mới phát sinh từ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2025.

Theo đó, Thông tư đã bổ sung mẫu văn bản đề nghị chấp thuận nội dung điều chỉnh đề án thăm dò khoáng sản. Đây là cơ sở để tổ chức, cá nhân đề nghị điều chỉnh phương pháp hoặc khối lượng công việc trong quá trình triển khai đề án thăm dò khi có những thay đổi về điều kiện địa chất hoặc yêu cầu kỹ thuật phát sinh trên thực tế.

Đáng chú ý hơn, văn bản đã bổ sung mẫu văn bản đề nghị thăm dò trong khu vực cấm hoạt động khoáng sản hoặc khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản. Đây là nội dung hoàn toàn mới, xuất phát từ các quy định sửa đổi của Luật Địa chất và Khoáng sản nhằm tạo cơ chế xem xét đối với các trường hợp đặc biệt có nhu cầu nghiên cứu, đánh giá tài nguyên khoáng sản trong những khu vực có yêu cầu quản lý đặc thù. Hồ sơ phải xác định rõ diện tích dự kiến thăm dò, phần diện tích nằm trong khu vực cấm hoặc tạm thời cấm và cam kết thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật.

Thông tư cũng bổ sung các mẫu văn bản chấp thuận thăm dò bổ sung và văn bản chấp thuận thăm dò trong khu vực cấm hoạt động khoáng sản thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Việc bổ sung các biểu mẫu này giúp hoàn thiện hành lang pháp lý cho các trường hợp đặc thù vốn chưa được quy định đầy đủ trong hệ thống văn bản trước đây.

Có thể thấy, thay vì chỉ sửa đổi kỹ thuật về biểu mẫu, Văn bản hợp nhất số 62 thực chất đang cụ thể hóa nhiều nội dung mới của Luật Địa chất và Khoáng sản sửa đổi, tạo cơ sở để các quy định của luật được triển khai thống nhất trên thực tế.

Tạo nền tảng cho chuyển đổi số và phân cấp quản lý tài nguyên khoáng sản

Bên cạnh việc chuẩn hóa hồ sơ, văn bản còn thể hiện rõ định hướng hiện đại hóa công tác quản lý khoáng sản.

Theo quy định, toàn bộ bản đồ sử dụng trong hồ sơ thăm dò khoáng sản phải được lập trên hệ tọa độ quốc gia VN-2000. Đối với hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bản đồ được lập theo hệ tọa độ VN-2000 với kinh tuyến trục trung ương và múi chiếu 6 độ; đối với hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp tỉnh, bản đồ được lập theo hệ tọa độ VN-2000 với kinh tuyến trục và múi chiếu địa phương.

Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành địa chất và khoáng sản đang xây dựng các cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý tài nguyên. Khi toàn bộ dữ liệu được chuẩn hóa về hệ tọa độ và cấu trúc thông tin, việc tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia sẽ thuận lợi hơn, hạn chế tình trạng chồng lấn, sai lệch hoặc thiếu đồng bộ giữa các địa phương.

Một điểm đáng chú ý khác là văn bản tiếp tục thể hiện rõ xu hướng phân cấp trong quản lý khoáng sản. Hệ thống giấy phép, quyết định và văn bản chấp thuận được thiết kế riêng cho từng cấp có thẩm quyền, gồm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Từ giấy phép thăm dò, gia hạn, cấp lại, chuyển nhượng đến quyết định công nhận kết quả thăm dò đều có biểu mẫu riêng tương ứng với từng cấp giải quyết.

Điều này cho thấy chủ trương phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương trong quản lý tài nguyên khoáng sản đang tiếp tục được cụ thể hóa. Trung ương tập trung xây dựng thể chế, tiêu chuẩn và giám sát; địa phương được trao nhiều quyền hơn trong giải quyết thủ tục hành chính và quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn.

Có thể nói, Văn bản hợp nhất số 62/VBHN-BNNMT không đơn thuần là một văn bản kỹ thuật về biểu mẫu hành chính. Đằng sau các quy định tưởng như mang tính thủ tục là nỗ lực hoàn thiện hệ thống quản lý khoáng sản theo hướng minh bạch, hiện đại và số hóa. Khi toàn bộ hồ sơ, dữ liệu và quy trình được chuẩn hóa, hoạt động thăm dò khoáng sản sẽ có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn, giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, giảm rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp và tạo nền tảng cho phát triển ngành địa chất - khoáng sản bền vững trong giai đoạn mới.

 

Hồng Minh