news
Cơ cấu lại nông nghiệp đạt chuẩn ở Bắc Ninh

Cơ cấu lại nông nghiệp đạt chuẩn ở Bắc Ninh

Thứ sáu, 11/9/2026, 06:19 (GMT+7)
logo Phát triển nông nghiệp sinh thái, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn không chỉ là yêu cầu của quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp mà còn là giải pháp có ý nghĩa chiến lược nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Đối với tỉnh Bắc Ninh, đây cũng là cơ hội để khai thác hiệu quả những lợi thế sau hợp nhất, phát huy tiềm năng về đất đai, điều kiện sinh thái, nguồn nhân lực và vị trí địa lý nhằm xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, đa giá trị, có khả năng cạnh tranh cao và phát triển bền vững.
4_1788771929.png
Ảnh minh họa

Phát huy tối đa lợi thế sau hợp nhất 

Tỉnh Bắc Ninh sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, địa phương có quy mô diện tích tự nhiên gần 4.720 km², dân số trên 3,6 triệu người, nằm ở vị trí kết nối giữa Thủ đô Hà Nội với vùng trung du và miền núi phía Bắc, sở hữu hệ thống giao thông thuận lợi, điều kiện sinh thái đa dạng và nhiều vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa có quy mô lớn. Đây là lợi thế đặc biệt để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, phát triển nông nghiệp đa giá trị gắn với công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics và xuất khẩu.

Tỉnh Bắc Ninh xác định cơ cấu lại ngành Nông nghiệp không chỉ là chuyển đổi cơ cấu sản xuất mà là chuyển đổi toàn diện tư duy phát triển, từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”; từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao giá trị gia tăng; từ khai thác tài nguyên sang phát triển nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và phát thải thấp; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực; lấy doanh nghiệp làm hạt nhân liên kết chuỗi giá trị; lấy người nông dân làm chủ thể của quá trình phát triển; đồng thời lấy vùng nguyên liệu đạt chuẩn làm nền tảng để mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.

Thời gian qua, tỉnh đã triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và hữu cơ; thúc đẩy liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, qua đó tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương. 

Tỉnh đã từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung đối với các cây trồng chủ lực, tạo nền tảng phát triển vùng nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến và xuất khẩu. Đối với cây lúa, tỉnh tập trung phát triển các vùng sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất và giá trị gia tăng, gắn với cơ giới hóa đồng bộ và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất. Diện tích gieo trồng lúa duy trì ổn định khoảng 70.000 ha mỗi vụ, trong đó diện tích lúa chất lượng cao đạt trên 88.800 ha trong năm, chiếm gần 59% tổng diện tích gieo trồng, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến và tiêu dùng.

Nhiều vùng sản xuất tập trung đối với khoai tây, cà rốt, hành, tỏi, rau màu các loại đã được hình thành, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Đặc biệt, đối với cây ăn quả, nhất là vải thiều - sản phẩm đặc trưng có lợi thế cạnh tranh của tỉnh - Bắc Ninh tập trung xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn gắn với quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 54.000 ha cây ăn quả, trong đó gần 30.000 ha vải thiều; diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đạt trên 17.300 ha. Đây là nền tảng quan trọng để mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao giá trị thương hiệu và phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững.

Bên cạnh lĩnh vực trồng trọt, tỉnh Bắc Ninh cũng tập trung cơ cấu lại lĩnh vực chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, an toàn sinh học, ứng dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi giá trị. Hiện nay, toàn tỉnh có 2.975 trang trại chăn nuôi, trong đó có 135 trang trại quy mô lớn, 460 trang trại quy mô vừa và 2.380 trang trại quy mô nhỏ; hình thành 53 chuỗi liên kết sản xuất chăn nuôi và 175 trang trại liên kết gia công với các doanh nghiệp lớn như: Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam và nhiều doanh nghiệp khác. Tổng đàn vật nuôi duy trì ổn định với khoảng 1,155 triệu con lợn; 26,3 triệu con gia cầm; 115 nghìn con bò và 30 nghìn con trâu, tạo nguồn cung thực phẩm lớn cho tỉnh, Thủ đô Hà Nội và các địa phương trong vùng.

Đối với lĩnh vực thủy sản, tỉnh tiếp tục phát triển nuôi trồng theo hướng thâm canh, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng mặt nước; từng bước gắn sản xuất với truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân.

Trong những năm qua, tỉnh đã tập trung ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, quy trình canh tác tiên tiến, cơ giới hóa và công nghệ số vào toàn bộ quá trình sản xuất. Các chương trình “3 giảm, 3 tăng”, IPM, IPHM, SRI cùng với hệ thống tưới thông minh, máy bay không người lái, nhật ký điện tử, mã QR truy xuất nguồn gốc và số hóa vùng trồng đã được triển khai ngày càng rộng rãi, góp phần giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm vật tư đầu vào, nâng cao năng suất lao động và giảm tác động đến môi trường.

Song song với đó, tỉnh đẩy mạnh phát triển sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và hữu cơ; tăng cường quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt của thị trường nhập khẩu. Đặc biệt, việc triển khai đồng bộ các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước hình thành nền sản xuất nông nghiệp thông minh, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, hiện đại 

Thứ nhất, tỉnh tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, lợi thế của từng vùng và nhu cầu thị trường; ưu tiên phát triển các vùng nguyên liệu đối với những sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh như lúa chất lượng cao, rau màu, cây ăn quả và các sản phẩm đặc sản địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai, khuyến khích phát triển các hình thức liên kết sản xuất quy mô lớn; đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất như giao thông nội đồng, thủy lợi, điện, kho bảo quản và hạ tầng số, tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ cao.

Thứ hai, tiếp tục triển khai hiệu quả các chủ trương của Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng các giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Cơ cấu lại lĩnh vực chăn nuôi theo hướng sinh thái, an toàn sinh học và kinh tế tuần hoàn; phát triển các vùng chăn nuôi tập trung gắn với xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh, ứng dụng công nghệ số trong quản lý đàn vật nuôi, giám sát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, dự báo sâu bệnh, quản lý nhật ký sản xuất điện tử và kết nối dữ liệu giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. 

Thứ ba, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hút các doanh nghiệp có năng lực về tài chính, công nghệ và thị trường đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là các dự án chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và logistics nông sản. Khuyến khích hình thành các chuỗi liên kết bền vững giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân theo nguyên tắc cùng đầu tư, cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm.

Thứ tư, tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và các tiêu chuẩn quốc tế khác; khuyến khích sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, tưới tiết kiệm nước và các mô hình sản xuất tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để giảm phát thải và bảo vệ môi trường. 

Thứ năm, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp và hợp tác xã phát triển nông nghiệp; đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo hướng số hóa, công khai, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Cùng với đó, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nông nghiệp góp phần hình thành đội ngũ “nông dân chuyên nghiệp” đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại.

Linh Anh