Đắk Lắk: Doanh nghiệp đồng hành xây dựng vùng sầu riêng có mã số

Đắk Lắk: Doanh nghiệp đồng hành xây dựng vùng sầu riêng có mã số

Thứ sáu, 9/10/2026, 06:14 (GMT+7)
logo Thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng sầu riêng được đẩy mạnh số hóa, tăng trách nhiệm của các chủ thể và hậu kiểm. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, Phó Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, Phó Chủ tịch Công ty Cổ phần Vinanutrifood Bình Định về tác động của Nghị quyết 36, yêu cầu đối với vùng nguyên liệu có mã số và giải pháp duy trì chất lượng, đáp ứng thị trường xuất khẩu.
e-hang-1_1790907247.jpg
Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, Phó Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, Phó Chủ tịch Công ty Cổ phần Vinanutrifood Bình Định

PV: Thưa bà, Nghị quyết 36/2026/NQ-CP có những điểm mới trong việc cấp và quản lý mã số vùng trồng. Từ thực tiễn thu mua, chế biến và xuất khẩu sầu riêng, doanh nghiệp đánh giá những thay đổi này tác động như thế nào đến việc xây dựng và quản lý vùng nguyên liệu?

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng: Theo tôi, điểm thay đổi quan trọng nhất của Nghị quyết 36 là chuyển phương thức quản lý từ nặng về hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu, trách nhiệm của chủ thể và hậu kiểm.

Nghị quyết quy định việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng, theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm; đồng thời tăng cường hậu kiểm, kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc. Đây là bước thay đổi rất đáng chú ý bởi nó vừa tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, vừa đặt trách nhiệm tuân thủ trực tiếp lên từng chủ thể tham gia chuỗi.

Từ góc độ doanh nghiệp, chúng tôi cho rằng đây là cơ hội để tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng chuyên nghiệp hơn. Trước đây, mã số vùng trồng đôi khi được nhìn nhận như một thủ tục để đủ điều kiện xuất khẩu. Nhưng trong cách tiếp cận mới, mã số phải trở thành “hồ sơ nhận diện” của cả một vùng sản xuất, phản ánh được vùng ở đâu, ai sản xuất, sản xuất như thế nào, sử dụng vật tư gì, thời điểm thu hoạch ra sao và sản phẩm cuối cùng đã đi vào chuỗi nào.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu, bởi muốn xây dựng chuỗi sầu riêng bền vững thì không thể chỉ thu mua theo từng mùa vụ, doanh nghiệp phải tiến tới liên kết vùng trồng từ trước mùa vụ, cùng hợp tác xã và nông dân kiểm soát chất lượng ngay từ đầu.

PV: Khi liên kết với nông hộ, hợp tác xã để xây dựng vùng sầu riêng có mã số, doanh nghiệp đang đặt ra những yêu cầu gì về quy trình sản xuất, sử dụng vật tư nông nghiệp, ghi chép nhật ký canh tác, kiểm soát dư lượng và truy xuất nguồn gốc? Việc thực hiện những yêu cầu này hiện có thuận lợi, khó khăn gì, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng: Quan điểm của chúng tôi là chất lượng hàng xuất khẩu phải được hình thành từ vườn, không phải đến nhà máy mới bắt đầu kiểm soát.

Khi xây dựng vùng nguyên liệu liên kết, doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến một số nội dung: xác định rõ diện tích và hộ sản xuất trong vùng; quản lý giống và quy trình canh tác; kiểm soát danh mục và thời gian sử dụng vật tư nông nghiệp; ghi chép nhật ký sản xuất; quản lý thời gian cách ly; lấy mẫu kiểm nghiệm khi cần thiết; kiểm soát thời điểm thu hoạch và xây dựng khả năng truy xuất từ từng lô hàng trở về đúng vùng trồng.

Đối với sầu riêng xuất khẩu, chúng ta càng phải thận trọng bởi yêu cầu của mỗi thị trường có thể khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần cập nhật thường xuyên các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu và chuyển hóa các yêu cầu đó thành quy trình dễ thực hiện tại vùng nguyên liệu.

Thuận lợi hiện nay là nhận thức của nhiều hợp tác xã và nông dân đã thay đổi khá nhanh. Người sản xuất hiểu rằng làm đúng quy trình không chỉ để có mã số mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng tiêu thụ và giá trị của sản phẩm.

anh-hh_1790907814.jpg
Ông Vạn Vĩnh Cương (bên phải) doanh nghiệp Trung Quốc ghi nhận chất lượng sầu riêng Đắk Lắk (Ảnh: Hồng Hải)

Khó khăn lớn nhất là việc duy trì tính đồng nhất trong một vùng có nhiều hộ sản xuất. Chỉ cần một số hộ không tuân thủ quy trình, sử dụng vật tư không kiểm soát hoặc ghi chép không đầy đủ thì có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả vùng nguyên liệu. Vì vậy, theo tôi, liên kết vùng trồng phải chuyển từ “doanh nghiệp đến mua sản phẩm” thành “doanh nghiệp cùng tham gia quản trị quá trình tạo ra sản phẩm”.

PV: Nghị quyết 36 đề cao trách nhiệm tự kê khai, tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và tăng cường hậu kiểm. Doanh nghiệp đang làm gì để kiểm soát việc tuân thủ quy trình sản xuất của các hộ dân trong vùng nguyên liệu, bảo đảm sầu riêng đưa vào chuỗi xuất khẩu đúng từ vùng trồng đã được cấp mã số?

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng: Tôi cho rằng đây chính là nội dung doanh nghiệp phải thay đổi mạnh nhất. Khi cơ chế quản lý chuyển theo hướng tự khai, tự chịu trách nhiệm và tăng hậu kiểm, doanh nghiệp không thể chỉ kiểm tra hồ sơ của vùng trồng khi chuẩn bị thu mua. Việc kiểm soát phải diễn ra xuyên suốt cả mùa vụ.

Trong mô hình liên kết mà chúng tôi hướng tới, mỗi vùng nguyên liệu cần có một hồ sơ quản trị xuyên suốt: danh sách hộ và diện tích; bản đồ vùng trồng; nhật ký canh tác; lịch sử sử dụng vật tư; dữ liệu kiểm tra, kiểm nghiệm; sản lượng dự kiến; sản lượng thực tế và dữ liệu giao nhận.

Khi thu hoạch, từng lô nguyên liệu phải được xác định rõ nguồn gốc trước khi đưa vào cơ sở sơ chế, đóng gói hoặc chế biến. Không thể để xảy ra tình trạng có mã số vùng trồng nhưng hàng hóa từ bên ngoài lại được đưa vào và sử dụng mã số đó để xuất khẩu.

Doanh nghiệp cũng cần bố trí đội ngũ kỹ thuật phối hợp với hợp tác xã kiểm tra định kỳ và kiểm tra theo rủi ro. Khi phát hiện bất thường phải khoanh vùng ngay, xác minh nguyên nhân và không đưa lô hàng chưa đủ điều kiện vào chuỗi xuất khẩu.

Chúng tôi muốn xây dựng nguyên tắc rất rõ: một mã số - một vùng nguyên liệu thực - một hệ thống dữ liệu - một chuỗi trách nhiệm có thể kiểm chứng.

PV: Nghị quyết 36 cũng đặt vấn đề đẩy mạnh số hóa, quản lý và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng. Doanh nghiệp hiện đang ứng dụng công nghệ như thế nào trong quản lý vùng nguyên liệu, cập nhật dữ liệu sản xuất và truy xuất nguồn gốc? Theo bà, cần làm gì để dữ liệu mã số vùng trồng thực sự trở thành công cụ phục vụ quản trị chuỗi sầu riêng?

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng: Tôi đặc biệt quan tâm đến nội dung này bởi nếu mã số chỉ được số hóa dưới dạng một con số thì chúng ta mới số hóa hồ sơ, chưa thực sự chuyển đổi số chuỗi nông nghiệp.

Ở góc độ doanh nghiệp, chúng tôi hướng tới việc số hóa từng vùng nguyên liệu, từng hộ sản xuất và từng lô hàng. Dữ liệu không nên dừng ở tên chủ vùng và diện tích mà cần từng bước tích hợp bản đồ vùng trồng, mùa vụ, nhật ký canh tác, vật tư sử dụng, kết quả kiểm nghiệm, ngày thu hoạch, sản lượng, cơ sở đóng gói hoặc chế biến và đầu ra của từng lô sản phẩm.

Khi đó, QR truy xuất nguồn gốc phải gắn với một hệ thống dữ liệu có khả năng kiểm chứng, thay vì chỉ cung cấp vài dòng thông tin cho người tiêu dùng.

Xa hơn nữa, khi dữ liệu đủ tốt, doanh nghiệp có thể sử dụng công nghệ để dự báo sản lượng, xác định thời điểm thu hoạch, quản trị chất lượng, lập kế hoạch nhà máy và logistics, đồng thời cảnh báo sớm các rủi ro trong vùng nguyên liệu.

Theo tôi, mục tiêu cuối cùng phải là chuyển từ “cấp mã số vùng trồng” sang “quản trị vùng trồng bằng dữ liệu”.

PV: Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết 36, doanh nghiệp có kiến nghị gì với cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và các hợp tác xã trong việc cấp, duy trì và hậu kiểm mã số vùng trồng? Đồng thời, doanh nghiệp sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng vùng nguyên liệu sầu riêng ổn định, minh bạch và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lâu dài?

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng: Tôi cho rằng trước hết cần thống nhất một quan điểm: mã số vùng trồng không phải đích đến, mà là điểm khởi đầu của một quá trình quản trị chất lượng lâu dài.

Với cơ quan quản lý và chính quyền địa phương, chúng tôi mong muốn tiếp tục đẩy nhanh chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc, đồng thời tăng cường hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro, hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật để các hợp tác xã, nông hộ thực hiện đúng và duy trì được mã số một cách thực chất.

Với các hợp tác xã, theo tôi cần nâng vai trò từ đơn vị tập hợp nông dân thành đầu mối quản trị vùng nguyên liệu. Hợp tác xã phải biết quản lý dữ liệu, giám sát quy trình sản xuất, tổ chức vật tư đầu vào và phối hợp với doanh nghiệp tiêu thụ đầu ra.

Về phía doanh nghiệp, chúng tôi xác định mình không thể đứng ở cuối chuỗi và chỉ xuất hiện khi đến mùa thu hoạch. Doanh nghiệp cần đi vào vùng nguyên liệu sớm hơn, cùng nông dân và hợp tác xã xây dựng tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, quản lý chất lượng, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, chế biến và kết nối thị trường.

sau_1790907401.png
Mã số vùng trồng là điểm khởi đầu để quản trị chất lượng và xây dựng chuỗi sầu riêng bền vững (Ảnh: Hồng Hải)

Đối với Đắk Lắk, tôi cho rằng đây là cơ hội để xây dựng những vùng sầu riêng không chỉ “có mã số” mà thực sự “có thương hiệu”. Muốn làm được điều đó cần hình thành một chuỗi liên kết rõ ràng: nông dân sản xuất đúng - hợp tác xã quản trị tốt - doanh nghiệp đồng hành và bao tiêu theo chất lượng - Nhà nước xây dựng hệ thống quản lý minh bạch - thị trường có thể truy xuất và tin tưởng sản phẩm.

Khi làm được như vậy, chúng ta không chỉ giải quyết câu chuyện xuất khẩu của một mùa sầu riêng mà đang xây dựng uy tín dài hạn cho sầu riêng Đắk Lắk và cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!

TỪ MÃ SỐ ĐẾN QUẢN TRỊ VÙNG TRỒNG

Mã số vùng trồng là cơ sở để nhận diện, quản lý và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Giá trị của mã số chỉ được bảo đảm khi vùng trồng duy trì đúng quy trình, dữ liệu được cập nhật đầy đủ và các chủ thể cùng chịu trách nhiệm trong suốt chuỗi sản xuất.

Doanh nghiệp cần đồng hành từ đầu vụ, phối hợp với nông dân và hợp tác xã kiểm soát quy trình canh tác, vật tư nông nghiệp, thu hoạch, kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc.

Số hóa vùng trồng giúp kết nối dữ liệu từ sản xuất đến thu mua, đóng gói và xuất khẩu, qua đó nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Sỹ Tùng