news
Đất ngập nước ven biển: Lá chắn trước thiên tai

Đất ngập nước ven biển: Lá chắn trước thiên tai

Thứ bảy, 10/10/2026, 06:48 (GMT+7)
logo Từ rừng ngập mặn, bãi triều đến đầm phá và thảm cỏ biển, đất ngập nước ven biển góp phần giảm tác động của thiên tai, giữ nguồn lợi thủy sản và lưu trữ carbon. Ý kiến của TS. Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (IMHEMS), đặt cạnh các nghiên cứu và chính sách hiện hành cho thấy, bảo vệ vùng bờ cần bắt đầu từ việc giữ gìn hệ sinh thái.

Nơi đất liền gặp biển không chỉ có đê, kè và các công trình. Rừng ngập mặn ở cửa sông, bãi triều khi nước rút, đầm phá và những thảm cỏ biển dưới làn nước nông đều tham gia vào đời sống vùng bờ. Chúng là nơi cư trú của sinh vật, gắn với nguồn lợi thủy sản và tạo nên khoảng đệm tự nhiên trước sóng, bão. Khi biến đổi khí hậu làm gia tăng sức ép lên vùng ven biển, giá trị của khoảng đệm ấy càng cần được nhìn nhận đầy đủ.

a1_ts._du_van_toan_1790908018.webp
TS. Dư Văn Toán

Theo TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (IMHEMS), Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đất ngập nước ven biển là vùng chuyển tiếp giữa môi trường đất liền và biển, gồm rừng ngập mặn, đầm phá, bãi triều và thảm cỏ biển. Các hệ sinh thái này có năng suất sinh học cao, vừa bảo vệ bờ, duy trì đa dạng sinh học, vừa hỗ trợ sinh kế của cộng đồng. Từ cách tiếp cận đó, việc phục hồi chúng gắn trực tiếp với giảm rủi ro thiên tai, chứ không chỉ với bảo tồn cảnh quan.

Một vùng bờ, nhiều chức năng bảo vệ

Theo TS. Dư Văn Toán nêu vai trò của rừng ngập mặn và đầm lầy ven biển trong giảm năng lượng sóng, hấp thụ nước mùa mưa bão, hạn chế ngập lụt và bảo vệ hạ tầng. Ông dẫn mức giảm năng lượng sóng có thể lên tới 70%. Đây là con số thể hiện khả năng trong những điều kiện nhất định; hiệu quả cụ thể ở mỗi nơi cần được xác định theo tình trạng rừng, địa hình và đặc điểm sóng, không thể dùng một tỷ lệ chung cho mọi bờ biển.

Bằng chứng khoa học giúp làm rõ giới hạn ấy. Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đánh giá đất ngập nước ven biển có thể giảm xói lở và ngập do bão, nước biển dâng khi còn đủ không gian và sinh cảnh phù hợp. Nếu mực nước biển dâng vượt quá khả năng bồi tụ tự nhiên, tác dụng bảo vệ sẽ suy giảm. Vì thế, đánh giá một dải rừng phòng hộ cần xem cả diễn biến bùn cát, thủy triều và không gian để hệ sinh thái duy trì lâu dài.

Giá trị của đất ngập nước cũng nằm ở những điều ít nhìn thấy hơn. Rừng ngập mặn và thảm cỏ biển góp phần lưu giữ carbon trong thực vật và trầm tích; vùng nước nông là nơi cư trú, sinh trưởng của nhiều loài thủy sinh. Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) ghi nhận các hệ sinh thái này hỗ trợ nghề cá, cải thiện chất lượng nước và góp phần bảo vệ bờ trước bão, lũ. Một khu rừng được giữ vì vậy đồng thời phục vụ phòng hộ, đa dạng sinh học và sinh kế.

Nội dung lưu trữ carbon trong tham luận cần được hiểu theo đúng đối tượng và cách đo. “Carbon xanh” bao gồm carbon trong cây, rễ và đặc biệt trong lớp trầm tích của một số hệ sinh thái ven biển. Không có một hệ số so sánh cố định áp dụng cho tất cả rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và rừng trên cạn. Đánh giá tiềm năng carbon của từng khu vực đòi hỏi số liệu về diện tích, trữ lượng và sự thay đổi của hệ sinh thái qua thời gian.

hai-canh-dat-ngap-nuoc-ven-bien_1790908731.png
Bảo vệ và phục hồi đất ngập nước ven biển góp phần duy trì lá chắn tự nhiên trước thiên tai, gìn giữ nguồn lợi thủy sản và sinh kế cộng đồng.

Khi thiên tai tăng, lá chắn tự nhiên suy yếu

Theo TS. Dư Văn Toán, nước biển dâng, xói lở, bão và triều cường đang đặt vùng bờ trước nhiều rủi ro. Khi rừng ngập mặn, đất ngập nước bị thu hẹp, khả năng phòng hộ tự nhiên cũng giảm. Áp lực đô thị hóa làm bài toán thêm phức tạp: khu vực ven biển vừa có thêm dân cư, công trình cần bảo vệ, vừa có nguy cơ mất đi không gian của các hệ sinh thái vốn giúp giảm tác động của thiên tai.

IPCC đã đưa ra lưu ý, đất ngập nước ven biển cần có đủ không gian để thích ứng với biến động mực nước. Nếu phía sau rừng là công trình hoặc khu xây dựng khiến hệ sinh thái không thể dịch chuyển khi biển tiến vào, khả năng thích ứng ấy bị hạn chế. Đây là lý do việc giữ bãi triều, rừng và hành lang sinh thái phải được cân nhắc ngay từ quy hoạch vùng bờ. Phục hồi sau khi vùng đệm đã mất thường khó khăn hơn bảo vệ hệ sinh thái còn nguyên vẹn.

Trong phòng, chống thiên tai, giải pháp dựa vào thiên nhiên cũng có giới hạn. Rừng ngập mặn không thay thế hoàn toàn nơi trú bão, cảnh báo sớm hoặc đê biển tại những địa bàn cần công trình bảo vệ. Vấn đề chuyên môn là xác định phần việc của từng giải pháp và cách chúng hỗ trợ nhau, tùy điều kiện của mỗi đoạn bờ. Đây cũng là hướng quản lý tổng hợp mà TS. Dư Văn Toán đề cập.

Kinh nghiệm quốc tế và một lát cắt từ Việt Nam

TS. Dư Văn Toán dẫn kinh nghiệm phục hồi rừng ngập mặn ở Bangladesh, Philippines và Việt Nam, đồng thời đề cập cách quản lý vùng bờ kết hợp công trình với hệ sinh thái tại Hà Lan, Hàn Quốc và Sri Lanka. Các trường hợp này gợi ra một điểm chung: bảo vệ bờ cần được tính cùng quy hoạch không gian, phối hợp ngành và vai trò của cộng đồng, thay vì đặt từng giải pháp riêng lẻ.

Bangladesh là ví dụ có thêm thông tin từ Ngân hàng Thế giới. Quốc gia này kết hợp cải tạo đê bao, xây dựng nơi trú bão, giải pháp dựa vào thiên nhiên và hệ thống cảnh báo sớm để giảm rủi ro cho vùng ven biển. Bài học phù hợp với hướng tiếp cận trong tham luận: rừng ngập mặn phát huy tác dụng tốt hơn khi được xem là một phần của hệ thống bảo vệ dân cư, hạ tầng và sinh kế.

Tại Cà Mau, một hoạt động trao đổi kinh nghiệm do Ngân hàng Thế giới phối hợp với các cơ quan Việt Nam tổ chức năm 2025 đã đưa đại biểu đến các điểm phục hồi rừng ngập mặn, công trình giảm sóng và hợp tác xã tôm - rừng. Đây là ví dụ cụ thể về việc đặt giải pháp công trình, hệ sinh thái và sinh kế cạnh nhau. Thông tin này phản ánh nội dung hoạt động tại địa phương, không phải số liệu đánh giá hiệu quả phòng hộ của từng mô hình.

gieo-mam-xanh-ben-dam-ngap-man_1790912742.png
Người dân chung tay phục hồi đất ngập nước ven biển, góp phần bảo vệ vùng bờ và duy trì sinh kế bền vững. Ảnh minh họa.

Chính sách đã có, trọng tâm là thực hiện theo từng vùng bờ

Đề xuất ưu tiên bảo vệ rừng ngập mặn, đầm phá và bãi triều của TS. Dư Văn Toán có điểm gặp với chính sách hiện hành. Nghị định số 66/2019/NĐ-CP đặt khuôn khổ về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước. Trên cơ sở đó, Quyết định số 1975/QĐ-TTg ban hành kế hoạch hành động giai đoạn 2021-2030, gồm điều tra, kiểm kê, xác lập các vùng đất ngập nước quan trọng; phục hồi nơi suy thoái; xây dựng mô hình sinh kế và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý.

Theo kế hoạch này, mục tiêu đến năm 2030 là toàn bộ vùng đất ngập nước quan trọng được điều tra, đánh giá, quản lý, quan trắc và giám sát; phục hồi ít nhất 25% vùng đất ngập nước quan trọng bị suy thoái. Đây là mục tiêu chính sách, không phải kết quả đã đạt được. Các chỉ tiêu khiến việc bảo tồn phải đi từ nhận diện đúng vùng cần ưu tiên đến theo dõi tình trạng hệ sinh thái sau phục hồi.

Riêng với rừng ven biển, Quyết định số 1662/QĐ-TTg phê duyệt đề án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2021-2030. Đề án đặt mục tiêu trồng mới 20.000 ha rừng ven biển, trong đó 9.800 ha là rừng ngập mặn chắn sóng; trồng bổ sung, phục hồi và làm giàu 15.000 ha rừng ven biển, trong đó 6.800 ha là rừng ngập mặn. Văn bản cũng nêu ưu tiên chống sạt lở ở đồng bằng sông Cửu Long, phát triển rừng chắn gió, chắn cát ở miền Trung và hỗ trợ sinh kế cho người tham gia bảo vệ rừng. Các diện tích nói trên là chỉ tiêu của đề án, cần phân biệt với diện tích thực hiện.

Đặt hai chương trình cạnh nhau cho thấy, yêu cầu quản lý rộng hơn diện tích rừng trồng. Nếu chỉ tính số cây hoặc số hecta mà không theo dõi bãi triều, đầm phá, điều kiện nước, khả năng giảm xói lở và sinh kế của cộng đồng, rất khó đánh giá đầy đủ một vùng bờ có thật sự bền vững hơn hay chưa. Đây là cách diễn giải từ các nhiệm vụ điều tra, giám sát và đo lường hiệu quả mà chính sách và ý kiến của chuyên gia TS. Dư Văn Toán đã cùng đưa ra đề cập.

dat-ngap-nuoc-ven-bien-1_1790909050.png

Dữ liệu và cộng đồng trong một phương án phòng hộ

Theo TS. Dư Văn Toán, cần tăng cường cảnh báo sớm có tính đến dữ liệu về hệ sinh thái ven biển; phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, du lịch sinh thái và quản lý rừng có người dân tham gia. Ông cũng gợi ý huy động các quỹ khí hậu quốc tế, khu vực tư nhân và cộng đồng để triển khai giải pháp dựa vào thiên nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung. Đây là các hướng đề xuất trong tài liệu, chưa phải một danh mục dự án đã được phê duyệt.

Một chuyển động gần đây có liên quan tới yêu cầu dữ liệu là quy chế phối hợp giữa Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Cục Viễn thám quốc gia và Cục Khí tượng Thủy văn, được công bố tháng 5/2026. Theo thông tin từ Cục Viễn thám quốc gia, các đơn vị sẽ chia sẻ dữ liệu hiện trạng rừng, ảnh viễn thám và thông tin khí tượng thủy văn để hỗ trợ giám sát tài nguyên, đánh giá tác động thiên tai, dự báo và cảnh báo. Cơ chế này là điều kiện hỗ trợ quản lý, còn hiệu quả riêng đối với đất ngập nước ven biển cần được kiểm chứng trong triển khai.

Từ cơ sở khoa học, kinh nghiệm quốc tế đến các mục tiêu trong nước, điểm gặp nhau là cách nhìn đất ngập nước ven biển như hạ tầng tự nhiên cần được quản lý lâu dài. Với mỗi đoạn bờ, phải hiểu hệ sinh thái đang còn gì, rủi ro nào lớn nhất và người dân sống nhờ nguồn lợi nào. Có như vậy, việc giữ rừng, phục hồi bãi triều, bố trí công trình và cảnh báo sớm mới cùng hướng tới mục tiêu mà TS. Dư Văn Toán nhấn mạnh: giảm thiệt hại thiên tai và bảo đảm cuộc sống cho cộng đồng ven biển.

Hồng Minh