news
Du lịch xanh - trục kết nối phát triển bền vững phía Nam

Du lịch xanh - trục kết nối phát triển bền vững phía Nam

Thứ năm, 8/10/2026, 08:25 (GMT+7)
logo Trong xu hướng du lịch chuyển sang phát triển xanh và bền vững, Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có lợi thế đặc biệt từ hệ sinh thái sông nước, nông nghiệp và văn hóa bản địa. Kết nối các lợi thế này thành chuỗi sản phẩm du lịch xanh không chỉ mở rộng không gian và nâng cao giá trị du lịch, mà còn tạo động lực cho nông nghiệp xanh, bảo tồn tài nguyên và phát triển sinh kế cộng đồng.
du-lich-xanh_1790908652.jpg
Ảnh minh họa

Lợi thế tài nguyên nông nghiệp đến những sản phẩm du lịch xanh

Du lịch xanh không còn đơn thuần được hiểu là những chuyến đi đến các khu vực có cảnh quan tự nhiên. Giá trị của mô hình này ngày càng được nhìn nhận rộng hơn, bao gồm cả cách thức tổ chức hoạt động du lịch, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát huy văn hóa bản địa và tạo sinh kế cho cộng đồng. Theo đó, một điểm đến được xem là phát triển theo hướng xanh không chỉ cần hấp dẫn du khách mà còn phải bảo đảm khả năng duy trì tài nguyên và giá trị của điểm đến trong dài hạn. Đây chính là lợi thế nổi bật của ĐBSCL. Vùng đất được hình thành bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch, vùng đất ngập nước, rừng ngập mặn và những vùng sản xuất nông nghiệp đặc trưng. Vườn cây ăn trái, làng nghề, chợ nổi, văn hóa miệt vườn và đời sống cộng đồng ven sông tạo nên một không gian du lịch khác biệt mà không phải vùng nào cũng có được.

Theo báo cáo của Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, trong năm 2025, tổng doanh thu du lịch của vùng đạt khoảng 80.821 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng ấn tượng 29,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thành phố Cần Thơ trong 6 tháng đầu năm 2026 đã đón hơn 7,5 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt khoảng 6.608 tỷ đồng, Những con số này cho thấy quy mô thị trường du lịch của vùng ngày càng lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển từ khai thác số lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị của sản phẩm. Trong bức tranh đó, du lịch nông nghiệp và du lịch cộng đồng đang trở thành những hướng đi giàu tiềm năng. Thay vì chỉ đưa khách đến tham quan một điểm đến, sản phẩm du lịch có thể được tổ chức thành một chuỗi trải nghiệm, trong đó du khách được trực tiếp tham gia vào đời sống sản xuất, tìm hiểu văn hóa và thưởng thức sản phẩm tại nơi sản xuất.

Cồn Chim, thuộc tỉnh Trà Vinh trước đây và nay thuộc tỉnh Vĩnh Long, là một ví dụ đáng chú ý. Mô hình du lịch thuận thiên tại đây kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường và trải nghiệm cộng đồng. Du khách có thể tham gia các hoạt động gắn với đời sống sản xuất như trải nghiệm vườn cây, đạp xe, đi bộ sinh thái và tìm hiểu những sản phẩm đặc trưng của địa phương. Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở số lượng khách mà còn ở cách cộng đồng địa phương trở thành chủ thể của hoạt động du lịch.

Tại tỉnh Vĩnh Long, địa phương cũng đã triển khai Bộ tiêu chí du lịch xanh nhằm thúc đẩy các sản phẩm gắn với bảo vệ môi trường, phát huy văn hóa bản địa và thu hút đầu tư. Đây là bước đi có ý nghĩa bởi nếu thiếu những tiêu chí cụ thể, “du lịch xanh” rất dễ trở thành một khái niệm mang tính quảng bá hơn là một phương thức phát triển thực chất.

Ở thành phố Cần Thơ, một số cơ sở lưu trú đã chủ động áp dụng các tiêu chí xanh, tăng diện tích không gian xanh, sử dụng vật liệu tái chế và tổ chức hoạt động thu gom rác tại khu vực sông, rạch. Một số cơ sở lưu trú cũng tìm kiếm các chứng nhận quốc tế về du lịch bền vững để nâng cao trách nhiệm môi trường và khả năng nhận diện thương hiệu trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, những mô hình riêng lẻ vẫn chưa đủ để tạo nên một thương hiệu du lịch xanh cho toàn vùng. Đây là điểm nghẽn cần được nhìn nhận rõ. ĐBSCL có tài nguyên phong phú nhưng sản phẩm còn phân tán; các địa phương có nhiều mô hình tốt nhưng chưa hình thành được chuỗi liên kết đủ mạnh; tiêu chí xanh giữa các điểm đến và doanh nghiệp chưa đồng nhất. Nếu không giải quyết được vấn đề này, lợi thế tài nguyên rất dễ bị phân tán thành những sản phẩm nhỏ lẻ, khó cạnh tranh với các điểm đến quốc tế. Trong khi đó, TP. HCM đang có điều kiện để đóng vai trò kết nối những lợi thế ấy thành một hệ sinh thái du lịch rộng hơn.

Kết nối, mở rộng không gian du lịch xanh TP. Hồ Chí Minh với Đồng bằng sông Cửu Long

Với quy mô thị trường lớn, hệ thống hạ tầng, năng lực doanh nghiệp và khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, TP. HCM có vị trí đặc biệt trong cấu trúc du lịch phía Nam. Theo Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Đảng bộ TP. HCM, trong 6 tháng đầu năm 2026, TP. HCM đón hơn 6,39 triệu lượt khách quốc tế và 27,31 triệu lượt khách nội địa; tổng thu du lịch đạt gần 214.000 tỷ đồng, tăng 63,9% so với cùng kỳ. Đây là nền tảng quan trọng để Thành phố không chỉ phát triển các sản phẩm tại chỗ mà còn trở thành “cửa ngõ” đưa du khách đến những không gian du lịch xanh của toàn vùng.

Thực tế, TP. HCM đang từng bước mở rộng không gian du lịch theo hướng này. Du lịch đường sông, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp và các sản phẩm trải nghiệm tại vùng ven đang được khai thác ngày càng đa dạng. Cần Giờ với hệ sinh thái rừng ngập mặn, Khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận và các giá trị văn hóa - lịch sử của Rừng Sác là một trong những tài nguyên đặc biệt của Thành phố.

Đáng chú ý, hướng phát triển du lịch xanh của TP. HCM không chỉ nằm ở việc khai thác cảnh quan tự nhiên mà ngày càng gắn với nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm OCOP và trải nghiệm sản xuất. Suối Tiên Farm là một ví dụ. Mô hình này phát triển nhiều giống cây ăn trái trong môi trường nhà màng, ứng dụng công nghệ cao và từng bước xây dựng các tour trải nghiệm nông nghiệp. Du khách không chỉ tham quan mà còn có thể trải nghiệm hái trái, thưởng thức sản phẩm ngay tại vườn và tìm hiểu phương thức sản xuất nông nghiệp hiện đại.

Từ góc độ đó, du lịch xanh có thể tạo ra một chuỗi giá trị rộng hơn cho nông nghiệp. Du khách đến một vùng sản xuất không chỉ chi trả cho dịch vụ lưu trú, ăn uống hay tham quan mà còn có thể mua nông sản, sản phẩm OCOP, sử dụng dịch vụ của cộng đồng và trở thành người quảng bá cho điểm đến.

Liên kết TP. HCM với ĐBSCL vì vậy cần được nhìn nhận không đơn thuần là việc xây dựng thêm các tour tuyến. Quan trọng hơn là hình thành một chuỗi sản phẩm có tính bổ trợ: TP. HCM đảm nhận vai trò trung tâm kết nối thị trường, truyền thông, doanh nghiệp và dòng khách; ĐBSCL cung cấp những trải nghiệm đặc trưng về sông nước, nông nghiệp, sinh thái và văn hóa. Khi các sản phẩm được liên kết thành hành trình, giá trị của mỗi điểm đến sẽ được nâng lên thay vì cạnh tranh với nhau.

Tuy nhiên, để mô hình này phát triển bền vững, “xanh” phải được chuyển từ thông điệp thành tiêu chuẩn cụ thể. Doanh nghiệp cần xác định mức sử dụng năng lượng, nước, vật liệu; giảm rác thải nhựa; tăng sử dụng năng lượng sạch; bảo vệ cảnh quan và hệ sinh thái; đồng thời bảo đảm cộng đồng địa phương thực sự được hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Đặc biệt, ngành du lịch cần bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến dấu chân carbon của chính mình. Vận tải, lưu trú, tiêu thụ năng lượng, thực phẩm và xử lý chất thải đều tạo ra phát thải. Khi du lịch được xác định là một ngành kinh tế quan trọng, đóng góp của ngành vào quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế ít phát thải cũng cần được lượng hóa và có giải pháp giảm thiểu tương xứng.

Đối với ĐBSCL, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động trực tiếp đến tài nguyên tự nhiên và sinh kế. Xâm nhập mặn, sụt lún đất, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể làm thay đổi cảnh quan, hệ sinh thái và điều kiện sản xuất vốn là nền tảng của nhiều sản phẩm du lịch. Do vậy, phát triển du lịch xanh không thể tách khỏi chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu của toàn vùng. Một mô hình du lịch dựa vào tài nguyên nhưng làm suy giảm chính tài nguyên đó sẽ không thể được coi là phát triển bền vững.

Từ thực tế này, yêu cầu đặt ra không chỉ là có thêm nhiều mô hình du lịch xanh mà phải từng bước hình thành hệ sinh thái du lịch xanh có tiêu chuẩn, có liên kết và có khả năng đo lường. Khi các tiêu chí được chuẩn hóa, doanh nghiệp có cơ sở đầu tư; địa phương có công cụ quản lý; du khách có căn cứ lựa chọn và thị trường quốc tế có thể nhận diện rõ hơn giá trị của điểm đến.

Quang Tiến