news
El Niño rất mạnh đặt ra yêu cầu chủ động nguồn nước

El Niño rất mạnh đặt ra yêu cầu chủ động nguồn nước

Thứ ba, 22/9/2026, 15:27 (GMT+7)
logo Sau đợt mưa lớn diện rộng tại Bắc Bộ và miền Trung, dự báo khí tượng thủy văn cho thấy một thách thức khác đang hiện hữu: El Niño có khả năng duy trì ở cường độ rất mạnh trong những tháng cuối năm 2026, làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt mưa, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô 2026-2027. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 18/9, PGS,TS. Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị nguồn nước và phương án sản xuất từ sớm, thay vì chờ thiên tai xảy ra mới ứng phó.

Mưa lớn vừa qua không làm giảm nguy cơ thiếu nước

Những ngày giữa tháng 9/2026, câu chuyện thời tiết nổi bật vẫn là mưa lớn tại Bắc Bộ và các tỉnh miền Trung. Theo thông tin được cung cấp tại cuộc họp báo ngày 16/9 cho biết, từ đêm 9 đến ngày 15/9, do ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới qua Trung Bộ nối với một vùng áp thấp nhiệt đới, kết hợp gió mùa Đông Bắc đầu mùa, mưa lớn đã xảy ra trên diện rộng và có xu hướng dịch chuyển từ Nam ra Bắc.

quang-ngai-chu-dong-ung-pho-mua-lon-bao-dam-an-toan-ho-dap_1789697598.png
Từ ngày 11/9 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xuất hiện mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và hoàn lưu. Ảnh: Công Lý

Trong giai đoạn từ đêm 9 đến ngày 12/9, mưa tập trung tại phía Đông tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng và thành phố Huế. Lượng mưa phổ biến tại phía Đông Quảng Ngãi đạt 100-120 mm; tại Đà Nẵng 200-400 mm, riêng xã Điện Bàn Tây đạt 436 mm; tại thành phố Huế phổ biến 300-450 mm, đặc biệt đỉnh Bạch Mã ghi nhận 1.098,4 mm.

Từ đêm 12 đến ngày 15/9, vùng mưa chuyển ra đồng bằng Bắc Bộ và khu vực từ Thanh Hóa đến thành phố Huế, với tổng lượng phổ biến 150-250 mm. Một số điểm vượt 300 mm, như Văn Lý (Ninh Bình) 311 mm, Lũng Vân (Phú Thọ) 338 mm, Thanh Tân 1 (Thanh Hóa) 334 mm, Nông Trường 15 (Nghệ An) 359 mm, Kỳ Anh (Hà Tĩnh) 372 mm, Tà Long (Quảng Trị) 492 mm và Tà Lương (thành phố Huế) 397 mm.

Trên sông Bôi, sông Hoàng Long, sông Bưởi, thượng lưu sông Chu và các sông từ Quảng Trị đến thành phố Huế đã xuất hiện một đợt lũ. Đỉnh lũ trên các sông ở mức báo động 1, báo động 2 và trên báo động 2; riêng sông Thạch Hãn tại Quảng Trị vượt báo động 3.

Số liệu cập nhật đến 6 giờ ngày 15/9 cho thấy mưa lũ đã làm 1 nhà bị sập, 10 nhà hư hỏng và 591 nhà tại Quảng Trị bị ngập nhưng nước đã rút. Có 1.000,2 ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, thiệt hại; 1 con gia súc và 1.250 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 44 điểm giao thông bị sạt lở; 100 m kè bờ suối bị sạt lở. Đây là những con số cho thấy tác động trực tiếp của mưa lớn đối với đời sống và sản xuất.

Tuy nhiên, lượng mưa lớn trong một số ngày hoặc tại một số địa bàn không đồng nghĩa nguy cơ thiếu nước trong những tháng tới đã được loại trừ. Số liệu tại cuộc họp báo cho thấy, ngay trong 15 ngày đầu tháng 9, lượng mưa vẫn thiếu hụt trên phần lớn khu vực miền núi Bắc Bộ và miền Tây Nam Bộ. Trong thời gian còn lại của năm, dòng chảy trên các lưu vực sông và lượng nước tại hồ chứa được dự báo có xu thế thấp hơn trung bình nhiều năm.

El Niño: Xác suất 98% đạt cường độ rất mạnh

Điểm đáng chú ý trong bản tin xu thế thiên tai những tháng cuối năm là trạng thái ENSO. Trong tuần thứ hai của tháng 9/2026, El Niño đang ở ngưỡng cường độ rất mạnh, với chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực NINO3.4 ở mức 2,0°C.

Dự báo trong thời kỳ từ tháng 10 đến tháng 12/2026, El Niño có khả năng đạt cường độ rất mạnh với xác suất 98%, tăng 5% so với dự báo cho cùng thời kỳ được đưa ra trong tháng trước. Xác suất El Niño ở cường độ mạnh chỉ còn 2%. Đây là cơ sở quan trọng để nhận diện sớm nguy cơ thiếu hụt mưa và nguồn nước khi bước vào mùa khô 2026-2027.

Theo dự báo, từ tháng 10 đến tháng 12/2026, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm. Trung bình nhiều năm, giai đoạn này có khoảng 4,5 cơn trên Biển Đông và 1,9 cơn đổ bộ vào đất liền; từ nay đến hết năm 2026, vẫn có khả năng xuất hiện 1-2 cơn áp thấp nhiệt đới hoặc bão ảnh hưởng đến đất liền nước ta.

Không khí lạnh được dự báo hoạt động yếu hơn trung bình nhiều năm; rét đậm, rét hại có khả năng xuất hiện muộn hơn quy luật khí hậu và số ngày rét đậm, rét hại ít hơn cùng kỳ. Trong tháng 10, mưa vừa, mưa to vẫn có thể xảy ra trên phạm vi cả nước. Sang tháng 11, mưa vừa, mưa to có xu hướng ít hơn trung bình nhiều năm, chủ yếu tập trung từ Hà Tĩnh đến thành phố Huế và Duyên hải Nam Trung Bộ. Mùa mưa tại Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ có khả năng kết thúc sớm.

du-bao-bao-15-7-2_1789697301.jpg
PGS,TS. Mai Văn Khiêm

Từ các tín hiệu này, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước diện rộng được đặt ra đối với Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ trong mùa khô 2026-2027. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, PGS,TS. Mai Văn Khiêm phân tích, tác động đáng lưu ý của El Niño đối với nông nghiệp là mưa thiếu hụt, nhiệt độ cao và bốc thoát hơi nước gia tăng, từ đó dẫn đến hạn hán, thiếu nước cho sản xuất. Mức độ ảnh hưởng không đồng đều mà phụ thuộc nguồn nước của từng khu vực, thời điểm thiếu nước và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng.

Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên là những vùng cần đặc biệt quan tâm. Tây Nguyên tập trung nhiều cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, có nhu cầu nước lớn và chu kỳ sản xuất kéo dài. Những vùng phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, khu vực cuối nguồn, nơi có hồ chứa nhỏ hoặc năng lực thủy lợi hạn chế sẽ dễ bị tổn thương hơn.

Với Nam Bộ, rủi ro không chỉ là hạn hán và thiếu nước mà còn có xâm nhập mặn. Khi nguồn nước ngọt từ thượng nguồn giảm, kết hợp triều cường và điều kiện dòng chảy, nước mặn có thể xâm nhập sâu theo các cửa sông. Theo kịch bản đang được theo dõi, trong những tháng cao điểm mùa khô, vùng có độ mặn từ 4 g/l trở lên có thể ảnh hưởng sâu trong các đợt triều cường, tùy từng thời điểm và hệ thống sông.

Nguy cơ hạn hán, thiếu nước được dự báo tăng dần từ cuối năm 2026, rõ hơn từ tháng 1/2027 và có khả năng đạt mức cao trong khoảng tháng 2 đến tháng 4/2027 tại nhiều khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ. Tháng 2 và tháng 3/2027 là giai đoạn đặc biệt đáng lưu ý; đến tháng 5, nguy cơ vẫn có thể còn tại một số khu vực. Tuy vậy, theo ông Khiêm, khi đánh giá tác động đối với nông nghiệp, không thể chỉ nhìn vào mức độ hạn mà còn phải xem hạn xảy ra ở thời điểm nào của mùa vụ.

Không chờ hạn mặn xảy ra mới ứng phó

Trao đổi với phóng viên tại cuộc họp báo, PGS,TS. Mai Văn Khiêm nhấn mạnh phải chuyển từ ứng phó khi thiên tai đã xảy ra sang chủ động dự báo, cảnh báo và chuẩn bị trước. “Điều quan trọng nhất là không chờ đến khi hạn hán, thiếu nước hoặc xâm nhập mặn xảy ra mới ứng phó, mà cần chủ động chuẩn bị ngay từ trước mùa khô”, ông nói.

Trước hết, các địa phương cần rà soát, cân đối và tích trữ nguồn nước từ hồ chứa, ao, đập đến hệ thống thủy lợi; đồng thời nhận diện sớm những khu vực có nguy cơ thiếu nước cao để xây dựng phương án phân bổ phù hợp. Nguồn nước cần được ưu tiên cho các thời kỳ sản xuất quan trọng và những nhóm cây trồng nhạy cảm.

Cùng với giải pháp công trình, lịch thời vụ phải được điều chỉnh theo khả năng nguồn nước thực tế. Tại những nơi dự báo thiếu nước nghiêm trọng, cần cân nhắc thời điểm xuống giống, diện tích sản xuất và cơ cấu cây trồng, tránh duy trì lịch sản xuất cứng nhắc khi điều kiện nguồn nước đã thay đổi. Việc lựa chọn giống, cây trồng chịu hạn, áp dụng tưới tiết kiệm, giữ ẩm đất và sử dụng nước hiệu quả cần được triển khai sớm, nhất là đối với cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, phương án sản xuất phải tính đồng thời cả hạn và mặn. Người dân cần theo dõi diễn biến độ mặn, kiểm tra chất lượng nước trước khi đưa vào ruộng, vườn hoặc ao nuôi; chủ động trữ nước ngọt và tranh thủ lấy nước khi điều kiện cho phép, nhất là trước các đợt triều cường. Với cây ăn quả lâu năm, việc sử dụng nguồn nước có độ mặn cao trong thời gian kéo dài có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất.

Một yêu cầu khác là kết nối chặt chẽ thông tin khí tượng, thủy văn, nguồn nước với kế hoạch sản xuất nông nghiệp. Cảnh báo chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được cụ thể hóa đến từng vùng sản xuất: nơi nào có nguy cơ cao, rủi ro tăng vào thời điểm nào và cần chuẩn bị biện pháp gì.

Từ những trận mưa lớn giữa tháng 9 đến cảnh báo thiếu nước trong mùa khô sắp tới, diễn biến thời tiết cho thấy rủi ro có thể chuyển trạng thái nhanh và tác động theo những cách khác nhau giữa các vùng. Dự báo sớm vì thế không chỉ để nhận biết thiên tai, mà phải trở thành căn cứ điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu sản xuất, kế hoạch tưới và tích trữ nước. Chuẩn bị trước một bước chính là điều kiện để giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ sinh kế của người dân trong mùa khô 2026-2027.

Hồng Minh