Nhiều năm qua, các hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê luôn nằm trong nhóm những lưu vực ô nhiễm nghiêm trọng nhất khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, ảnh hưởng lớn đến môi trường, đời sống và phát triển kinh tế - xã hội. Trước thực trạng đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện Đề án “Điều tra, đánh giá và đề xuất phương án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy, Ngũ Huyện Khê”. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của Luật Tài nguyên nước năm 2023, đồng thời, mở ra hướng tiếp cận mới trong công tác phục hồi nguồn nước theo lưu vực sông.
Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Hồng Hiếu cho biết, thực tế hiện nay, nhiều dòng sông tại các khu vực đô thị, khu vực tập trung dân cư không còn thực hiện đúng chức năng tự nhiên của một dòng sông, mà về cơ bản đã trở thành “kênh thoát nước thải”. Tại các hệ thống sông Nhuệ - Đáy, Bắc Hưng Hải và Ngũ Huyện Khê, tình trạng ô nhiễm đã xảy ra nhiều năm. Một số đoạn sông gần như không còn khả năng tự làm sạch, chất lượng nước suy giảm nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến môi trường, sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân trong lưu vực.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một chương trình phục hồi tổng thể đối với các hệ thống sông ô nhiễm được xác định là yêu cầu cấp thiết, không chỉ nhằm cải thiện chất lượng nước mà còn góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, nâng cao chất lượng môi trường và tạo động lực phát triển bền vững cho khu vực. Phục hồi dòng chảy và kiểm soát nguồn thải là hai trụ cột của Đề án.
Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Hồng Hiếu, mục tiêu của Đề án không dừng lại ở việc xử lý ô nhiễm cục bộ hay giải quyết những vấn đề mang tính trước mắt mà hướng tới phục hồi toàn diện nguồn nước, từng bước duy trì dòng chảy thường xuyên, liên tục cho các hệ thống sông. Mục tiêu dài hạn là đưa các dòng sông trở thành những trục không gian xanh - sạch - đẹp, có giá trị sinh thái, văn hóa và kinh tế, thay vì chỉ đóng vai trò là kênh tiêu thoát nước như hiện nay.
Trên cơ sở đó, Đề án được xây dựng theo hướng tiếp cận tổng hợp trên toàn lưu vực, kết hợp đồng bộ giữa các giải pháp công trình và phi công trình, với hai nhóm giải pháp trọng tâm là phục hồi dòng chảy và kiểm soát nguồn thải. Đối với phục hồi dòng chảy, giải pháp được đề xuất là điều hòa, phân phối lại nguồn nước từ các hệ thống sông lớn; bổ sung nguồn nước cho các sông bị suy giảm dòng chảy; nạo vét, khơi thông các tuyến sông, kênh dẫn; đồng thời, điều chỉnh phương thức vận hành các công trình thủy lợi nhằm duy trì dòng chảy thường xuyên và liên tục. Song song với đó là các giải pháp kiểm soát nguồn thải, tập trung vào việc tăng cường thu gom và xử lý nước thải đô thị, làng nghề, khu công nghiệp; siết chặt quản lý hoạt động xả thải; nâng cao năng lực giám sát và kiểm tra việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.
Bổ cập nguồn nước từ sông Hồng, sông Đà để “hồi sinh” các hệ thống sông
Một trong những nội dung quan trọng của Đề án là nghiên cứu phương án điều hòa, phân phối nguồn nước từ các dòng sông lớn như sông Hồng và sông Đà nhằm bổ sung nước cho các hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê. Theo đánh giá của cơ quan xây dựng Đề án, sự suy giảm dòng chảy trong nhiều năm qua là một trong những nguyên nhân chính khiến khả năng tự làm sạch của các dòng sông bị hạn chế nghiêm trọng. Do đó, việc bổ sung nguồn nước và duy trì dòng chảy thường xuyên sẽ tạo điều kiện để tăng cường trao đổi nước, pha loãng chất ô nhiễm và từng bước phục hồi hệ sinh thái thủy sinh. Các giải pháp công trình được đề xuất gồm xây dựng, nâng cấp hệ thống điều tiết, bổ cập và phân phối nguồn nước; cải tạo các tuyến sông, kênh kết nối; nạo vét các đoạn sông bị bồi lắng; xây dựng công trình thu gom và xử lý nước thải tập trung. Bên cạnh đó, Đề án cũng đề xuất rà soát, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng và các công trình thủy lợi liên quan để tối ưu hóa việc phân phối nguồn nước phục vụ mục tiêu phục hồi các dòng sông.
Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Hồng Hiếu, trên thế giới đã có nhiều quốc gia thành công trong việc cải tạo các dòng sông từng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Điển hình là dự án phục hồi suối Cheonggyecheon tại Hàn Quốc, nơi một dòng suối từng bị lấp và ô nhiễm nặng đã được khôi phục trở thành không gian sinh thái và văn hóa đặc sắc ngay giữa lòng đô thị. Nhiều quốc gia châu Âu cũng đã triển khai thành công các chương trình phục hồi sông thông qua việc kết hợp cải thiện chất lượng nước, khôi phục hệ sinh thái và tái thiết không gian ven sông.
Từ những kinh nghiệm này, có thể rút ra nhiều bài học quan trọng trong quá trình cải tạo các dòng sông ô nhiễm ở nước ta. Trước hết, việc phục hồi sông cần được tiếp cận theo lưu vực thay vì xử lý từng đoạn sông riêng lẻ, bảo đảm kiểm soát đồng bộ các nguồn xả thải từ sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp. Cùng với đó, cần ưu tiên khôi phục dòng chảy tự nhiên, tăng khả năng tự làm sạch của sông, bảo tồn các hệ sinh thái thủy sinh và phát triển hành lang xanh ven sông thay vì chỉ tập trung vào các giải pháp công trình. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, thành công của các dự án phục hồi phụ thuộc rất lớn vào cơ chế phối hợp liên ngành, sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và việc ứng dụng công nghệ số trong quan trắc, giám sát chất lượng nước theo thời gian thực.
Trên thực tế, định hướng này đã và đang được Việt Nam từng bước thể chế hóa thông qua Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các chương trình phục hồi các dòng sông, trong đó nhấn mạnh yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, tăng cường kiểm soát ô nhiễm, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và phát huy giá trị cảnh quan, sinh thái của các dòng sông. Dù điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm đô thị của Việt Nam có nhiều khác biệt so với Hàn Quốc hay các nước châu Âu, những kinh nghiệm về quản trị lưu vực, kiểm soát nguồn thải, phục hồi hệ sinh thái và huy động sự tham gia của toàn xã hội vẫn là những bài học có giá trị tham khảo quan trọng trong quá trình “hồi sinh” các dòng sông đang bị ô nhiễm ở nước ta.
Tuy nhiên, lãnh đạo Cục Quản lý tài nguyên nước cho rằng, mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác nhau. Vì vậy, kinh nghiệm quốc tế cần được nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc để xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Điều quan trọng không chỉ là làm sạch nguồn nước mà còn phải khôi phục các giá trị tự nhiên của dòng sông, tạo dựng không gian công cộng ven sông phục vụ các hoạt động vui chơi, thể dục, thể thao, du lịch, dịch vụ thương mại,... cho người dân.
Một điểm mới đáng chú ý của Đề án là định hướng đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác phục hồi nguồn nước. Theo đó, bên cạnh nguồn lực đầu tư của Nhà nước, Đề án đề xuất xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm thu hút doanh nghiệp và khu vực tư nhân tham gia đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) và các mô hình hợp tác phù hợp khác. Cùng với đó là việc ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý nguồn nước thông qua xây dựng hệ thống quan trắc tự động, giám sát chất lượng nước theo thời gian thực; phát triển các công cụ hỗ trợ ra quyết định trong điều hành, phân phối nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm. Đề án cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, tăng cường cơ chế phối hợp liên vùng, liên ngành; phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan Trung ương và địa phương trong quản lý, vận hành và bảo vệ nguồn nước. Theo đánh giá của Cục Quản lý tài nguyên nước, điểm khác biệt lớn nhất của Đề án là chuyển từ cách làm đơn lẻ sang tiếp cận tổng thể theo lưu vực sông, kết hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình và phi công trình. Đặc biệt, Đề án chú trọng cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực xã hội, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, tạo điều kiện để doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia. Đây cũng là bước cụ thể hóa các quy định mới của Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các chỉ đạo của Chính phủ về kiểm soát ô nhiễm các lưu vực sông. Nếu được triển khai hiệu quả, Đề án không chỉ góp phần từng bước “hồi sinh” các hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê mà còn có thể trở thành mô hình mẫu để nhân rộng trên nhiều lưu vực sông khác trong cả nước.