Khai thác các-bon xanh dương từ hệ sinh thái ven biển

Khai thác các-bon xanh dương từ hệ sinh thái ven biển

Thứ năm, 8/10/2026, 08:15 (GMT+7)
logo Rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các hệ sinh thái ven biển vừa hấp thụ, lưu trữ các-bon, vừa bảo vệ bờ biển, duy trì đa dạng sinh học và sinh kế cộng đồng. Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng để khai thác những giá trị này theo hướng bền vững.
164608_trai-nghiem-ve-hoang-so-cua-song-nuoc-ngap-man-ngay-gan-thu-do_1790782868.jpg
Rừng ngập mặn: Tiềm năng lưu giữ các-bon xanh

Giá trị lưu trữ các-bon xanh dương từ hệ sinh thái biển

Các-bon xanh dương là lượng các-bon được hấp thụ và lưu trữ trong các hệ sinh thái biển, ven biển như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và bãi triều. Khái niệm này mở rộng cách tiếp cận các giải pháp dựa vào thiên nhiên, từ những hệ sinh thái trên đất liền đến không gian biển và vùng ven biển - nơi có những bể chứa các-bon quan trọng nhưng chưa được khai thác đầy đủ trong các chương trình khí hậu.

Theo Ủy ban Hải dương học liên chính phủ thuộc UNESCO, các hệ sinh thái các-bon xanh dương có khả năng hấp thụ các-bon với tốc độ cao gấp 2-4 lần so với rừng trên cạn. Khả năng này cho thấy vai trò đáng chú ý của hệ sinh thái biển, ven biển trong các giải pháp giảm phát thải và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tốc độ hấp thụ và lượng các-bon lưu trữ là hai chỉ số khác nhau; việc khai thác tiềm năng này cần căn cứ vào từng hệ sinh thái, điều kiện tự nhiên và phương pháp đo lường cụ thể.

Với đường bờ biển dài và hệ sinh thái biển đa dạng, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển các mô hình bảo tồn, phục hồi và quản lý bền vững hệ sinh thái các-bon xanh dương. Theo Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu Lê Ngọc Tuấn, Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.200 km, với khoảng 200.000 ha rừng ngập mặn, tạo tiềm năng đáng kể về các-bon xanh. Bên cạnh khả năng lưu trữ các-bon, các hệ sinh thái ven biển còn có giá trị đa dạng sinh học và góp phần bảo vệ bờ biển, giảm thiệt hại do bão, hạn chế xói mòn.

Để xác định lượng các-bon xanh dương được hấp thụ, lưu trữ và có thể đóng góp cho mục tiêu khí hậu, cần có dữ liệu nền, phương pháp khoa học và quy trình kiểm chứng phù hợp. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm phân biệt giá trị sinh thái vốn có của hệ sinh thái với lượng các-bon có thể được đo đạc, xác nhận và xem xét trong cơ chế tín chỉ.

TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ NN&MT) cho rằng, tiềm năng khai thác các dự án khí hậu từ hệ sinh thái các-bon xanh dương ở nước ta rất lớn, tuy nhiên hiện dự án chủ yếu tập trung vào rừng ngập mặn. Do đó, cần mở rộng khai thác tại các khu ngập nước, lòng hồ, sông ngòi và hồ chứa trên đất liền. Những khu vực này sẽ tạo thêm nguồn lưu trữ các-bon xanh dương phục vụ yêu cầu khí hậu.

Bảo tồn hệ sinh thái các-bon xanh dương

Thị trường carbon xanh dương đang hình thành, song số dự án đạt tiêu chuẩn và được ghi nhận chính thức còn hạn chế. Theo báo cáo củ Cục Biến đổi khí hậu, trong tổng số 74 dự án được đề cập, có 15 dự án đạt tiêu chuẩn và đăng ký chính thức, chỉ 3 dự án bán được tín chỉ các-bon.

Khoảng cách giữa số lượng sáng kiến, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và kết quả tiếp cận thị trường cho thấy, việc phát triển dự án các-bon xanh dương đòi hỏi nền tảng khoa học, pháp lý và quản trị chặt chẽ.

Đối với Việt Nam, thách thức không chỉ là tìm kiếm nhà đầu tư hay xây dựng danh mục dự án. Yêu cầu căn bản là bảo vệ được hệ sinh thái, xác định chính xác giá trị carbon và bảo đảm lợi ích của cộng đồng tham gia quản lý, phục hồi. Nếu hệ sinh thái tiếp tục suy thoái hoặc bị chuyển đổi mục đích sử dụng, khả năng lưu trữ các-bon và tính bền vững của các dự án sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Vì vậy, ngăn chặn chuyển đổi rừng ngập mặn, hạn chế suy giảm thảm cỏ biển và bảo vệ các vùng đất ngập nước ven biển cần được đặt ở vị trí ưu tiên. 

mm_1790783426.jpg
Ảnh minh họa

Hiện nay, Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng hợp tác thông qua Chương trình Đối tác hành động các-bon xanh dương (NBCAP). Chương trình được triển khai trên cơ sở Ý định thư giữa Bộ NN&MT với Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), có sự phối hợp của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và các đối tác quốc tế. NBCAP hướng tới tăng cường phối hợp liên ngành, chia sẻ tri thức, huy động nguồn lực và thúc đẩy quản lý bền vững tài nguyên biển, ven biển.

Theo Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia về các-bon xanh dương vừa được Bộ NN&MT công bố, có ba mục tiêu chiến lược đầu tư phát triển các-bon xanh dương: Phục hồi và tối ưu hóa năng lực hấp thụ carbon của hệ sinh thái biển, ven biển; tích hợp các-bon xanh dương vào Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và mục tiêu khí hậu quốc gia; bảo vệ đa dạng sinh học gắn với thích ứng biến đổi khí hậu và sinh kế cộng đồng ven biển. 

Đầu tư các-bon xanh dương vì thế cần được nhìn nhận như một chuỗi điều kiện liên hoàn: Thể chế xác lập quyền và trách nhiệm; dữ liệu chứng minh kết quả; cơ chế tài chính hỗ trợ chuẩn bị và triển khai; cộng đồng tham gia và được chia sẻ lợi ích; thị trường tiếp nhận những dự án đáp ứng yêu cầu. Nếu một mắt xích chưa được hình thành, việc mở rộng quy mô đầu tư có thể gặp trở ngại.

Trong giai đoạn hiện nay, ưu tiên của Việt Nam không chỉ là xây dựng thêm công cụ huy động vốn, mà là tạo nền tảng để các dự án có thể đi qua toàn bộ chuỗi triển khai. Khi quyền các-bon được làm rõ, dữ liệu được chuẩn hóa, nguồn lực chuẩn bị dự án được bảo đảm và cơ chế phối hợp vận hành hiệu quả, tiềm năng hệ sinh thái mới có cơ hội chuyển thành danh mục đầu tư thực chất.

Đó cũng là điều kiện để các-bon xanh dương đóng góp đồng thời cho mục tiêu khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế biển và sinh kế bền vững của cộng đồng ven biển. 

Trần Thị Nương - Chi cục Bảo vệ môi trường miền Nam