news
Kỳ 1: Nghị quyết số 20-NQ/TW: Đến năm 2045, Việt Nam là quốc gia biển mạnh

Kỳ 1: Nghị quyết số 20-NQ/TW: Đến năm 2045, Việt Nam là quốc gia biển mạnh

Thứ sáu, 7/8/2026, 06:36 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV không chỉ đặt ra yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển, mà xác lập một bước chuyển có tính chiến lược: Từ "khai thác biển" sang "quản trị biển hiện đại"; từ "phát triển kinh tế ven biển" sang "xây dựng quốc gia biển mạnh". Trong bước chuyển ấy, ngành Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò đặc biệt quan trọng, từ hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển, quản lý tài nguyên đến bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và kiến tạo sinh kế bền vững cho người dân ven biển, hải đảo.
tw-3_1786007120.jpg
Toàn cảnh hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội (Hà Nội). Ảnh: Phương Hoa - TTXVN

Nhìn từ Hội trường Diên Hồng sáng 29/7/2026, câu chuyện về biển không còn được đặt trong giới hạn của một ngành kinh tế hay một phạm vi quản lý chuyên biệt. Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, biển được nhìn nhận trong tổng thể không gian phát triển, sức mạnh quốc gia, đời sống Nhân dân và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh. Đến năm 2045, Việt Nam phải hướng tới một quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại và công nghệ biển tiên tiến.

Thông điệp ấy cũng chính là điểm khởi đầu để nhận diện chiều sâu của Nghị quyết số 20-NQ/TW. Biển không chỉ là nơi đánh bắt hải sản, khai thác tài nguyên, xây dựng cảng biển hay phát triển du lịch. Biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ chủ quyền; là nơi kết nối đất liền với hải đảo, các hành lang kinh tế với chuỗi giá trị đại dương, lợi ích trước mắt với trách nhiệm lâu dài đối với các thế hệ mai sau. Từ cách tiếp cận đó, một câu hỏi lớn được đặt ra: Việt Nam sẽ tiếp tục khai thác những gì biển đang có, hay phải kiến tạo năng lực để làm chủ, quản trị và phát triển toàn diện không gian biển quốc gia? Nghị quyết số 20-NQ/TW đã đưa ra câu trả lời rõ ràng.

Không thể nhìn biển bằng những lát cắt riêng lẻ

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhận thức về vị trí, vai trò của biển đã được nâng lên; thể chế và chính sách tiếp tục được hoàn thiện; hạ tầng cảng biển, khu kinh tế và đô thị ven biển được đầu tư; điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ biển được chú trọng. Đời sống một bộ phận người dân ven biển, hải đảo từng bước được cải thiện.

Nhưng những kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của một quốc gia có biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW thẳng thắn chỉ rõ nhiều hạn chế, quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển; thể chế, chính sách chưa đồng bộ; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo; quy hoạch không gian biển còn bất cập; cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả. Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với lợi thế, trong khi khoa học, công nghệ, dữ liệu, điều tra cơ bản và nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu. Ô nhiễm môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xói lở bờ biển tiếp tục diễn biến phức tạp.

Đó không chỉ là những hạn chế của từng lĩnh vực riêng biệt. Phía sau là một vấn đề căn bản hơn, đó là: biển chưa thực sự được nhìn nhận và quản trị như một chỉnh thể thống nhất. Trong một thời gian dài, mỗi ngành thường tiếp cận biển theo phạm vi quản lý của mình. Giao thông quan tâm đến cảng biển và vận tải; thủy sản tập trung vào khai thác, nuôi trồng và chế biến; năng lượng hướng tới dầu khí, điện gió ngoài khơi; du lịch khai thác bờ biển, đảo và cảnh quan; lĩnh vực môi trường bảo vệ hệ sinh thái, kiểm soát nguồn thải.

Mỗi mục tiêu đều có lý do chính đáng. Nhưng trên cùng một vùng biển, các hoạt động ấy luôn có quan hệ tương tác, thậm chí cạnh tranh về không gian, tài nguyên và sức chịu tải của hệ sinh thái. Một quyết định phát triển nếu chỉ tối ưu hóa lợi ích của một ngành có thể làm gia tăng chi phí cho ngành khác, ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng hoặc gây ra những tổn thất môi trường khó phục hồi.

Cục Biển và Hải đảo Việt Nam từng chỉ ra rằng, cách quản lý theo ngành, lĩnh vực đã làm hạn chế việc xem xét tổng thể chức năng của từng vùng biển, thiếu hài hòa lợi ích giữa các bên và có thể dẫn đến suy thoái tài nguyên, gia tăng ô nhiễm, tổn thương hệ sinh thái, nghèo hóa nguồn lợi thủy sản. Thực tiễn ấy lý giải vì sao Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt quản trị biển hiện đại ở vị trí trung tâm. Đây không đơn thuần là đổi cách gọi từ “quản lý” sang “quản trị”, mà là thay đổi phương thức tổ chức phát triển.

Quản trị biển hiện đại đòi hỏi phải vượt qua tư duy chia cắt theo địa giới hành chính, theo nhiệm kỳ và theo phạm vi từng ngành. Không gian biển, vùng bờ, hải đảo, vùng trời và lòng đất dưới biển phải được đặt trong một tổng thể thống nhất; được phân vùng chức năng trên cơ sở dữ liệu, khoa học và sức chịu tải của môi trường; đồng thời có cơ chế điều phối rõ ràng giữa Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng.

tbt_1786007198.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN

Tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề quản trị biển trong yêu cầu quản trị thống nhất lãnh thổ. Theo đó, biển phải được kết nối với đất liền, cảng biển, logistics, các hành lang kinh tế và hợp tác quốc tế, thay vì tiếp tục được nhìn như những khoảng không gian riêng rẽ. Đây chính là bước chuyển từ “có biển” sang “làm chủ không gian biển”; từ sử dụng tài nguyên sẵn có sang tổ chức, phân bổ và kiến tạo nguồn lực phát triển mới.

hoan-thien-the-che-chinh-sach-thuc-day-phat-trien-kinh-te-bien-ben-vung-143856_28_1785987406.webp
Hội thảo quốc gia về hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững (ngày 5/6/2026 tại Cửa Lò, Nghệ An) quy tụ lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đại diện các bộ, ngành Trung ương, cùng lãnh đạo 21 tỉnh, thành phố có biển, các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp cùng tham dự.

Quản trị biển phải bắt đầu từ “thể chế và dữ liệu”

Tháng 6/2026, tại Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, đại diện 21 tỉnh, thành phố có biển cùng các bộ, ngành, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp đã tham dự Hội thảo quốc gia về hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.  

Không phải ngẫu nhiên câu chuyện đầu tiên được đặt lên bàn nghị sự lại là thể chế. Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² và hơn 4.000 đảo lớn nhỏ. Tuy nhiên, theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với lợi thế hiện có. Những vướng mắc về quy hoạch, thủ tục sử dụng không gian biển, chồng chéo pháp luật và phân định trách nhiệm quản lý đang làm chậm nhiều dự án, làm gia tăng chi phí và chưa tạo được hành lang thuận lợi cho các lĩnh vực mới.

img_9574-133643_192-141059_1785987149.webp
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại cuộc họp về “Tham vấn chính sách sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo” tại Hà Nội sáng 11/3/2026

Tại cuôc họp ngày 11/3/2026 tại Hà Nội về “Tham vấn chính sách sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho rằng, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo phải giải quyết được các vướng mắc thực tế, chứ không chỉ dừng lại ở hoàn thiện kỹ thuật văn bản. Đạo luật mới cần mở đường cho những lĩnh vực đang phát triển nhanh như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế biển xanh, đồng thời đáp ứng các vấn đề môi trường mới nổi, từ rác thải nhựa đại dương đến suy thoái hệ sinh thái và biến đổi khí hậu.

Yêu cầu này đã "gặp gỡ trực tiếp" với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW: hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh được xác định là một đột phá chiến lược. Theo Nghị quyết, quản trị không gian biển quốc gia phải trở thành nội dung cốt lõi của quá trình hoàn thiện thể chế. Hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan phải được rà soát, bảo đảm thống nhất, minh bạch, khả thi và đủ sức tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở nguồn lực xã hội. Cùng với đó là việc hoàn thiện các quy định về giao, cho thuê, đăng ký và sử dụng không gian biển; xác định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể; gắn khai thác với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học.

Nếu thể chế là “đường ray” thì dữ liệu chính là "nền móng" của quản trị biển hiện đại. Không thể phân bổ không gian cho nuôi biển, giao thông hàng hải, năng lượng tái tạo, bảo tồn thiên nhiên và quốc phòng, an ninh chỉ dựa trên hồ sơ rời rạc hoặc những dữ liệu thiếu đồng bộ. Càng không thể dự báo thiên tai, ô nhiễm, xói lở, xâm nhập mặn và những thay đổi của đại dương,... nếu thiếu hệ thống điều tra, quan trắc và cơ sở dữ liệu liên thông.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển; số hóa, tích hợp và chia sẻ toàn bộ dữ liệu tài nguyên, môi trường, hạ tầng và hoạt động biển trong hệ thống quản lý nhà nước. Đồng thời, Việt Nam phải thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám, Internet vạn vật, công nghệ biển sâu và hệ thống giám sát biển thông minh.

Thực tế, nền tảng này đang từng bước được chuẩn bị. Trong năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung xây dựng, sửa đổi các quy định liên quan đến sử dụng khu vực biển, nhận chìm ở biển, quản lý tổng hợp vùng bờ, điều tra cơ bản và cơ chế phối hợp liên ngành. Một số địa phương cũng đã đưa công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào giám sát, quản lý biển. Tuy nhiên, Nghị quyết mới đặt ra yêu cầu cao hơn: Dữ liệu không chỉ để lưu trữ hay phục vụ từng nhiệm vụ chuyên môn, mà phải trở thành tài sản và công cụ điều hành phát triển quốc gia.

Một dự án được bố trí ở đâu, sử dụng bao nhiêu không gian biển, tác động thế nào đến môi trường, có xung đột với ngư trường, tuyến hàng hải, khu bảo tồn hay yêu cầu quốc phòng hay không, tất cả cần được trả lời bằng hệ thống dữ liệu thống nhất và minh bạch. Chỉ khi đó, quản trị biển mới có thể chuyển từ xử lý sự vụ sang dự báo; từ “xin - cho” không gian sang phân bổ theo quy hoạch; từ khắc phục ô nhiễm sang phòng ngừa; từ phản ứng sau thiên tai sang chủ động xây dựng sức chống chịu.

anh-2_1785988520.png
Hệ thống cảng biển hiện đại với năng lực thông qua hàng hoá ngày càng tăng, đóng vai trò kết nối Việt Nam với thương mại toàn cầu, tạo động lực phát triển kinh tế biển bền vững và hội nhập quốc tế

Vai trò nòng cốt của ngành Nông nghiệp và Môi trường

Trong bức tranh phát triển quốc gia biển mạnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường không quản lý toàn bộ các ngành kinh tế biển. Nhưng Bộ đang nắm giữ nhiều nền tảng có tính quyết định đối với chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển.

Đó là hệ thống tài nguyên và môi trường biển; quy hoạch, điều tra cơ bản và dữ liệu biển; quản lý tổng hợp vùng bờ; bảo tồn đa dạng sinh học; ứng phó biến đổi khí hậu; phòng, chống thiên tai; khai thác và nuôi trồng thủy sản; phát triển sinh kế cho cộng đồng ven biển, hải đảo.

Nói cách khác, nếu cảng biển, năng lượng, du lịch và công nghiệp là những “cỗ máy” tạo tăng trưởng, thì tài nguyên, hệ sinh thái và không gian biển là nguồn năng lượng để các cỗ máy ấy vận hành lâu dài.

Trước đây, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng từng khẳng định kinh tế biển ngày càng trở thành không gian phát triển chiến lược, nơi gắn kết tăng trưởng với an ninh, môi trường và vị thế quốc gia. Phát triển bền vững kinh tế biển vì vậy cũng là thước đo năng lực quản trị hiện đại.

Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung hoàn thiện thể chế quản trị biển, thúc đẩy các ngành kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại; tăng cường điều tra cơ bản, khoa học, công nghệ và dữ liệu; bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và cải thiện đời sống người dân vùng ven biển. Nhưng chính những kết quả bước đầu ấy cũng cho thấy nhiệm vụ phía trước lớn hơn nhiều.

Nghị quyết số 20-NQ/TW yêu cầu xây dựng mô hình quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển; hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành; xác định rõ một cơ quan chủ trì điều phối các hoạt động trên biển; nâng cao năng lực hoạch định chính sách và quản trị rủi ro. Đây là yêu cầu trực tiếp để ngành Nông nghiệp và Môi trường rà soát lại công cụ quản lý, chất lượng dữ liệu, năng lực cán bộ và cơ chế phối hợp với các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, quản trị biển không thể chỉ được đo bằng số giấy phép đã cấp, số văn bản đã ban hành hay diện tích không gian biển đã phân bổ. Thước đo cuối cùng phải là tài nguyên được sử dụng hiệu quả hơn; hệ sinh thái được phục hồi; nguồn lợi thủy sản được bảo vệ; dự án được triển khai minh bạch; xung đột không gian được hạn chế; sinh kế và mức sống của người dân ven biển, hải đảo được nâng lên.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu việc triển khai nghị quyết phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả và rõ trách nhiệm. Chương trình hành động không thể dừng lại ở số lượng cuộc họp hay kế hoạch được ban hành, mà phải tạo ra sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận.

Đặt trong lĩnh vực biển, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa. Một nền quản trị biển hiện đại phải giúp ngư dân yên tâm vươn khơi, người nuôi biển có không gian sản xuất ổn định, doanh nghiệp tiếp cận thủ tục rõ ràng, nhà khoa học có dữ liệu để nghiên cứu, chính quyền địa phương có công cụ dự báo và cộng đồng được tham gia giám sát những quyết định liên quan trực tiếp đến môi trường sống của mình.

canva-1_1785987985.png

Từ lợi thế tự nhiên đến năng lực quốc gia

Trong nhiều thập niên, khi nói về tiềm năng biển, người ta thường nhắc đến chiều dài bờ biển, diện tích vùng biển, số lượng đảo, nguồn lợi thủy sản hay vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế. Đó là những lợi thế quan trọng, nhưng chưa đủ để làm nên một quốc gia biển mạnh.

Lợi thế chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức bằng thể chế tốt, được dẫn dắt bằng khoa học và công nghệ, được bảo vệ bằng ý thức trách nhiệm, được phân bổ công bằng và được chuyển hóa thành chất lượng sống của Nhân dân. Nghị quyết số 20-NQ/TW vì thế đánh dấu một bước chuyển sâu sắc: xây dựng quốc gia biển mạnh không còn là câu chuyện phát triển thêm bao nhiêu cảng biển, khai thác thêm bao nhiêu tài nguyên hay đón thêm bao nhiêu lượt khách. Đó là quá trình kiến tạo năng lực quản trị không gian biển quốc gia; làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ biển; bảo vệ chủ quyền đi đôi với bảo vệ môi trường; đưa cộng đồng cư dân ven biển và doanh nghiệp trở thành chủ thể phát triển.

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt ra những mục tiêu rất cụ thể về kinh tế, hạ tầng, khoa học - công nghệ, môi trường, văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh. Tầm nhìn năm 2045 là Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị hiện đại và vai trò quan trọng trong hợp tác, quản trị biển và đại dương toàn cầu.

Con đường ấy không bắt đầu từ những dự án khổng lồ ngoài khơi xa, mà trước hết từ cách chúng ta nhìn biển hôm nay. Khi biển được nhìn như một chỉnh thể sống động, hữu hạn và liên thông; khi mỗi quyết định khai thác đều phải tính đến giới hạn sinh thái, quyền lợi cộng đồng và trách nhiệm liên thế hệ; khi dữ liệu thay thế sự phân tán, phối hợp thay thế cục bộ, phòng ngừa thay thế khắc phục - tư duy quản trị biển hiện đại mới thực sự hình thành.

Và khi bước chuyển tư duy ấy được chuyển hóa thành thể chế, chương trình hành động và kết quả cụ thể, những lợi thế tự nhiên của Việt Nam mới có thể trở thành sức mạnh quốc gia, đưa khát vọng vươn ra biển lớn dần hiện hữu trong từng vùng biển, từng hòn đảo và từng cuộc sống của người dân.

Biển mở ra không gian phát triển mới, nhưng chính năng lực quản trị sẽ quyết định Việt Nam có thể đi xa đến đâu trên hành trình trở thành quốc gia biển mạnh.

Nghị quyết số 20-NQ/TW đã mở ra một tầm nhìn mới về phát triển đất nước từ biển. Tuy nhiên, tư duy chỉ thực sự tạo nên sức mạnh khi được cụ thể hóa bằng thể chế, chính sách và những chương trình hành động thiết thực. Từ quy hoạch không gian biển, điều tra cơ bản, quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao sinh kế cho cộng đồng ven biển, mỗi nhiệm vụ đều đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò nòng cốt. Chính những chuyển động từ thực tiễn sẽ là thước đo rõ nhất cho quyết tâm hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Mời đón đọc Kỳ II: Hiện thực hóa Nghị quyết 20: Từ quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh.

 

Hồng Minh