Mô hình tăng trưởng của ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026 - 2030

Mô hình tăng trưởng của ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026 - 2030

Chủ nhật, 4/10/2026, 07:17 (GMT+7)
logo Giai đoạn 2026 - 2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên và mở rộng quy mô sang phát triển xanh, sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp và dựa trên dữ liệu. Trong chuyển dịch đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) được xác định không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là động lực chủ yếu, với yêu cầu đổi mới từ cách đặt hàng nghiên cứu, tổ chức nguồn lực đến thương mại hóa kết quả và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn.

 

000.2_1790750778.png

Đến năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng Ngành phấn đấu đạt trên 55%

Trong giai đoạn 2021 - 2025, KHCN&ĐMST đã đóng góp thiết thực cho Ngành từ nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị nông sản đến quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa vẫn còn phân tán; doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo còn hạn chế; hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm, thử nghiệm, kiểm định, truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ. Liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương chưa tạo thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh. Đây cũng chính là điểm xuất phát để kế hoạch KHCN&ĐMST giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra một cách làm khác.

truong-dinh-hoai-thuy-san-e1628671223134_1790750229.jpg
Nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ phải xác định rõ cơ quan hoặc doanh nghiệp tiếp nhận. Ảnh minh họa

Thay vì dàn trải nguồn lực cho nhiều nhiệm vụ, định hướng mới tập trung vào những bài toán lớn, sản phẩm cuối cùng và địa chỉ ứng dụng cụ thể. Nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ phải xác định rõ cơ quan hoặc doanh nghiệp tiếp nhận, phương án thương mại hóa hoặc nhân rộng. Cùng với đó là khuyến khích khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, hậu kiểm, đặt hàng cạnh tranh; giao trực tiếp với nhiệm vụ cấp bách, chiến lược và nhiệm vụ quan trọng phục vụ quản lý nhà nước. Đây là sự thay đổi quan trọng về tư duy: Không chỉ hỏi nghiên cứu được bao nhiêu đề tài mà phải trả lời nghiên cứu giải quyết được vấn đề gì và tạo ra giá trị gì cho Ngành.

Mục tiêu được lượng hóa khá rõ. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế của Ngành phấn đấu đạt trên 55%. Nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển KHCN&ĐMST phấn đấu đạt 30 - 35% tổng nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và nhân rộng. Ngành cũng đặt mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 150 nhân lực khoa học và công nghệ chuyên sâu cùng khoảng 1.300 nhân lực về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản trị tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Cùng với đó, tỷ lệ kết quả nghiên cứu của viện, trường và các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Bộ được ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ quản lý nhà nước phải đạt tối thiểu 30%. Số công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; số đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, nhãn hiệu và các tài sản trí tuệ khác tăng 16 - 18%/năm; tỷ lệ sáng chế, giải pháp hữu ích và kết quả nghiên cứu được khai thác thương mại đạt 8 - 10% số văn bằng bảo hộ được cấp.

Những con số này cho thấy, mục tiêu của kế hoạch không dừng ở việc nâng cao năng lực nghiên cứu, mà hướng tới tạo ra sản phẩm, công nghệ và giá trị có thể đo đếm được trong thực tiễn.

Công nghệ đi vào từng mắt xích của Ngành

Với nông nghiệp, trọng tâm là công nghệ phục vụ các chuỗi giá trị bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu thị trường. Các hướng ưu tiên trải rộng từ giống, cơ giới hóa, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, bảo quản, chế biến sâu đến dự báo thị trường và giảm phát thải.

000.1-ca-chua_1790750120.jpg
Năng suất cây trồng tăng gấp nhiều lần nhờ ứng dụng công nghệ cao trải rộng từ giống, cơ giới hóa, tự động hóa,...

Đáng chú ý, công nghệ sinh học, công nghệ tế bào, chỉnh sửa gen, chọn giống phân tử, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo được định hướng ứng dụng để tạo ra các giống cây trồng có năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Cùng với đó là nghiên cứu sức khỏe đất, quản lý dinh dưỡng, phân bón hữu cơ, phân bón sinh học và thuốc bảo vệ thực vật sinh học.

Trong chăn nuôi và thủy sản, AI, IoT, tự động hóa và công nghệ xử lý chất thải được định hướng phục vụ mô hình sản xuất tuần hoàn, giảm phát thải. Ngành sẽ tập trung phát triển vắc xin, chế phẩm sinh học, hệ thống phát hiện sớm và cảnh báo dịch bệnh.

ban-sao-cua-nuoi-thuy-san_37_1790749910.jpg
Trong chăn nuôi và thủy sản, AI, IoT, tự động hóa và công nghệ xử lý chất thải được định hướng phục vụ mô hình sản xuất tuần hoàn, giảm phát thải. Ảnh minh họa STP Group

Đối với thủy sản, các giải pháp nuôi tuần hoàn, tiết kiệm nước, giám sát môi trường và dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm được xác định là những hướng quan trọng. Song song là nghiên cứu giống, thức ăn, chế phẩm sinh học và các giải pháp giảm phát thải trong nuôi, khai thác, bảo quản và chế biến.

Trong lâm nghiệp, công nghệ viễn thám, GIS, AI, UAV, IoT và cảm biến sẽ hỗ trợ quản lý rừng, phòng cháy chữa cháy, bảo tồn đa dạng sinh học, đánh giá trữ lượng và khả năng hấp thụ các-bon. Mục tiêu xa hơn là phát triển lâm nghiệp đa chức năng, đa giá trị, gắn với sinh kế cộng đồng, du lịch sinh thái và thị trường các-bon.

Với thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai, công nghệ bản sao số, IoT, viễn thám và AI được hướng tới các bài toán dự báo, cảnh báo sớm hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, sạt lở đất; đồng thời hỗ trợ quản lý, vận hành và bảo vệ công trình.

Trong quản lý đất đai, tài nguyên nước, địa chất, khoáng sản, đo đạc và bản đồ, dữ liệu lớn, GIS, UAV, AI, cảm biến và viễn thám sẽ được đẩy mạnh. Đặc biệt, dữ liệu và mô hình số được kỳ vọng hỗ trợ điều tra, quan trắc, dự báo, cảnh báo và ra quyết định về tài nguyên nước, đất đai, địa chất và khoáng sản.

Đối với môi trường, trọng tâm là công nghệ xử lý chất thải, tái chế, công nghệ sinh học môi trường, thu hồi năng lượng từ chất thải và tuần hoàn tài nguyên. Cùng với đó là quan trắc thông minh, đo lường và giám sát môi trường tự động, liên tục.

Một yêu cầu có tính nền tảng là xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và chuyên ngành theo hướng đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung và liên thông từ Trung ương đến địa phương.

Hướng tới hình thành hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu số đồng bộ 

Một trong những điểm nhấn của kế hoạch 2026 - 2030 là coi dữ liệu như một hạ tầng thiết yếu của quản trị Ngành. Ngành hướng tới hình thành hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu số đồng bộ, bao gồm nền tảng số dùng chung, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, kho dữ liệu, hồ dữ liệu, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu và dịch vụ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, sản xuất kinh doanh và dịch vụ công.

Kiến trúc dữ liệu Ngành được định hướng theo hướng hiện đại, liên thông và chuẩn hóa; từng bước hoàn thiện các tiêu chuẩn về danh mục dữ liệu, mã định danh, metadata, quy trình cập nhật, chia sẻ và khai thác. Dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung được thúc đẩy trong phạm vi pháp luật cho phép.

Trên nền tảng đó, AI, Big Data, IoT, blockchain, điện toán đám mây, viễn thám, GIS, UAV, cảm biến thông minh, mô hình hóa và bản sao số sẽ được ứng dụng vào những lĩnh vực cụ thể như truy xuất nguồn gốc, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, quản lý đất đai số, quan trắc môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, giám sát tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai, quản lý rừng và kiểm kê phát thải khí nhà kính.

robot_1790749709.jpg
Hạ tầng số phát triển đã thúc đẩy ứng dụng robot trong sản xuất nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác. Ảnh minh họa

Kế hoạch 5 năm về KHCN&ĐMST của Bộ NN&MT cho thấy, một chuyển dịch rõ ràng từ nghiên cứu dàn trải sang giải quyết bài toán lớn; từ quản lý đầu vào sang quản lý sản phẩm và tác động; từ Nhà nước đầu tư đơn thuần sang Nhà nước dẫn dắt và xã hội cùng đầu tư; từ dữ liệu phân tán sang hệ sinh thái dữ liệu liên thông. Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm thật nhiều công nghệ, mà là biến công nghệ thành năng suất, dữ liệu thành năng lực quản trị, nghiên cứu thành sản phẩm và đổi mới sáng tạo thành sức cạnh tranh.

Để đạt được điều đó, cùng với nguồn lực, hạ tầng và cơ chế chính sách, yếu tố quyết định vẫn là khả năng tổ chức thực hiện. Mỗi nhiệm vụ khoa học phải gắn với một nhu cầu cụ thể; mỗi kết quả nghiên cứu phải có khả năng đi vào thực tiễn; mỗi nền tảng dữ liệu phải được vận hành, cập nhật và khai thác; mỗi công nghệ chiến lược phải được tổ chức theo chuỗi từ nghiên cứu, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến sản xuất thử, ứng dụng, thương mại hóa và nhân rộng.

Nếu tạo được sự liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học, viện - trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương, KHCN&ĐMST sẽ không còn là một lĩnh vực đứng bên cạnh quá trình phát triển. Đó sẽ là đòn bẩy trực tiếp cho một nền nông nghiệp xanh, một môi trường được quản trị bằng dữ liệu và một mô hình tăng trưởng mới của ngành NN&MT trong giai đoạn 2026 - 2030.

Phương Chi