Mở rộng chính sách đầu tư và tăng kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng

Mở rộng chính sách đầu tư và tăng kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng

Thứ hai, 10/8/2026, 06:57 (GMT+7)
logo Nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm. Trong đó, những thay đổi liên quan đến chính sách đầu tư cho rừng đặc dụng được đánh giá là một trong những nội dung nổi bật, với nhiều quy định theo hướng nâng mức hỗ trợ, mở rộng phạm vi đầu tư và tăng cường nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng.
rung-dang-dung_1786070822.jpg
Một góc rừng đặc dụng Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hiện hành về thi hành Luật Lâm nghiệp, chính sách đầu tư trong lâm nghiệp, Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam và tổ chức, hoạt động của lực lượng kiểm lâm. Riêng đối với Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp, nhiều quy định mới đã được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái rừng đặc dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Một trong những điểm đáng chú ý là việc sửa đổi khoản 2 Điều 5 theo hướng tăng mức kinh phí bảo vệ rừng và mở rộng phạm vi hỗ trợ. Theo đó, các ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, cộng đồng dân cư và các chủ rừng thuộc đối tượng được quy định trong Luật Lâm nghiệp tiếp tục được Nhà nước hỗ trợ kinh phí bảo vệ rừng với mức cao hơn và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn.

Cụ thể, đối với ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ và các chủ rừng thuộc đối tượng quy định tại Luật Lâm nghiệp, mức kinh phí bảo vệ rừng được nâng lên bình quân 500.000 đồng/ha/năm. Đối với cộng đồng dân cư được giao quản lý rừng đặc dụng, mức hỗ trợ đạt 1.000.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng được giao. Các xã được giao quản lý rừng được hỗ trợ bình quân 300.000 đồng/ha/năm. Đối với khu vực II, khu vực III và vùng ven biển, mức kinh phí được áp dụng hệ số điều chỉnh cao hơn nhằm phù hợp với điều kiện quản lý và bảo vệ rừng đặc thù.

Bên cạnh đó, chi phí lập hồ sơ lần đầu về bảo vệ rừng đối với cộng đồng dân cư được nâng từ 50.000 đồng lên 150.000 đồng/ha, trong khi kinh phí quản lý, kiểm tra và nghiệm thu vẫn được duy trì ở mức 7% tổng kinh phí bảo vệ rừng hằng năm.

Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP quy định các đối tượng được hưởng chính sách bảo vệ rừng đặc dụng gồm ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, cộng đồng dân cư và các chủ rừng khác theo quy định của Luật Lâm nghiệp. Việc điều chỉnh mức hỗ trợ lần này góp phần bảo đảm nguồn lực thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng trong bối cảnh yêu cầu quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và phòng chống các hành vi xâm hại tài nguyên rừng ngày càng cao.

Đáng chú ý, khoản 3 Điều 5 cũng được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi các nội dung chi cho công tác bảo vệ rừng. Ngoài các hoạt động truyền thống, nguồn kinh phí còn được sử dụng cho công tác bảo trì, nâng cấp hạ tầng phục vụ bảo vệ rừng; theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại; bảo vệ và phát triển động vật, thực vật rừng. Đồng thời, Nghị định bổ sung các khoản chi cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng và hoạt động quản lý, giám sát ở cơ sở.

Theo quy định mới, nguồn kinh phí bảo vệ rừng được sử dụng để thực hiện nhiều hoạt động thiết thực như khoán bảo vệ rừng; duy trì lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; thuê lao động bảo vệ rừng; mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng; bảo trì và nâng cấp các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, hệ thống biển báo, biển cảnh báo, mốc ranh giới rừng và các công trình phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học.

Kinh phí cũng được bố trí cho các hoạt động điều tra, theo dõi, thống kê và giám sát diễn biến tài nguyên rừng; phòng trừ sinh vật gây hại rừng; hỗ trợ các đợt tuần tra, truy quét, kiểm tra và giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ rừng; tuyên truyền, phổ biến pháp luật; nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; giảm vật liệu cháy; diễn tập chữa cháy rừng và tổ chức trực phòng cháy, chữa cháy trong mùa khô.

So với quy định trước đây, các nội dung chi được quy định đầy đủ và toàn diện hơn, bao quát từ các hoạt động bảo vệ rừng trực tiếp tại hiện trường đến công tác quản lý, giám sát, đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng tham gia bảo vệ rừng. Điều này tạo điều kiện để các chủ rừng chủ động hơn trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp.

Bên cạnh đó, Nghị định đặc biệt chú trọng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng thông qua việc hỗ trợ xây dựng phương án, diễn tập, trực phòng cháy trong mùa khô và bảo trì các công trình, trang thiết bị chuyên dụng. Đây là những hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ cháy rừng tại nhiều địa phương, nhất là các khu rừng đặc dụng có giá trị bảo tồn cao.

Đối với chính quyền địa phương, kinh phí còn được sử dụng để duy trì hoạt động của các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng; thực hiện các hoạt động chống chặt phá rừng; quản lý, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; lập và tiếp nhận hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp theo thẩm quyền. Các doanh nghiệp nhà nước và các chủ rừng khác cũng được chủ động triển khai các hoạt động bảo vệ rừng theo phương án quản lý rừng bền vững và quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

Nghị định đồng thời quy định việc phân bổ kinh phí hằng năm phải ưu tiên cho các khu vực có nguy cơ cao bị xâm hại tài nguyên rừng, các địa bàn thường xuyên xảy ra vi phạm lâm luật và những khu rừng có giá trị đa dạng sinh học cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Đây là cơ sở để tập trung nguồn lực cho các khu vực trọng điểm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và tăng cường hiệu quả bảo tồn thiên nhiên.

Ngoài chính sách bảo vệ rừng, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về hỗ trợ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng thuộc quy hoạch rừng đặc dụng. Theo đó, mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên được nâng từ 1.000.000 đồng lên 2.500.000 đồng/ha/năm trong thời gian 6 năm; đối với vùng ven biển, mức hỗ trợ bằng 1,5 lần mức bình quân. Đối với khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung, kinh phí được xác định theo định mức kinh tế - kỹ thuật, thiết kế và dự toán công trình lâm sinh được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Nghị định cũng bãi bỏ quy định hỗ trợ chi phí lập hồ sơ lần đầu 50.000 đồng/ha đối với hoạt động khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng. Thay vào đó, chi phí lập hồ sơ thiết kế, dự toán được xác định theo dự toán được duyệt; kinh phí quản lý, kiểm tra và nghiệm thu tiếp tục được áp dụng ở mức 7% tổng kinh phí thực hiện hằng năm. Việc điều chỉnh này giúp tăng tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện, đồng thời bảo đảm kinh phí phù hợp với quy mô và yêu cầu kỹ thuật của từng dự án.

Không chỉ tập trung vào công tác bảo vệ và phục hồi rừng, các chính sách sửa đổi lần này còn hướng tới mục tiêu nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương trong quản lý tài nguyên rừng. Thực tiễn cho thấy, hiệu quả bảo vệ rừng đặc dụng phụ thuộc rất lớn vào sinh kế và đời sống của người dân sinh sống trong và xung quanh các khu rừng. Khi đời sống được cải thiện, áp lực khai thác tài nguyên rừng trái phép sẽ giảm, từ đó góp phần bảo vệ lâu dài các hệ sinh thái tự nhiên.

Trên cơ sở đó, Nghị định sửa đổi khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về hỗ trợ phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm các khu rừng đặc dụng theo hướng tăng gấp đôi mức hỗ trợ từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng/cộng đồng dân cư/năm. Đây là mức điều chỉnh đáng kể, tạo điều kiện để các cộng đồng vùng đệm triển khai các mô hình sinh kế bền vững, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng.

Có thể thấy, những sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 42/2026/NĐ-CP không chỉ đơn thuần là điều chỉnh định mức kinh phí mà còn thể hiện sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng. Việc tăng đầu tư cho bảo vệ rừng, phục hồi hệ sinh thái, hỗ trợ cộng đồng và tăng cường năng lực quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các hệ sinh thái có giá trị đặc biệt và thực hiện các cam kết của Việt Nam về phát triển xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trong bối cảnh tài nguyên rừng đang chịu nhiều áp lực từ phát triển kinh tế, xã hội và tác động của biến đổi khí hậu, việc hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường nguồn lực đầu tư cho rừng đặc dụng được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá cho các thế hệ tương lai.

Quang Minh