news
Nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu

Thứ tư, 7/10/2026, 06:41 (GMT+7)
logo Những năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, chính sách và dự án nhằm nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Tuy nhiên, trước diễn biến ngày càng phức tạp của BĐKH, cần tiếp tục chuyển từ cách tiếp cận ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động, tăng cường giải pháp dựa vào hệ sinh thái, thúc đẩy sinh kế thích ứng, nâng cao năng lực quản trị ở cấp cơ sở và tăng cường liên kết vùng, liên ngành trong thực hiện thích ứng.
bdkh_1790759891.jpg
Ảnh minh họa

Nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng 

Nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng trở thành một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững. Khả năng chống chịu không chỉ được thể hiện ở năng lực phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại trước thiên tai mà còn ở khả năng duy trì hoạt động thiết yếu, phục hồi sau các cú sốc và điều chỉnh hệ thống để thích nghi với điều kiện khí hậu mới. Năng lực thích ứng vì vậy cần được xem xét trên phạm vi rộng, bao gồm năng lực thể chế, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, cộng đồng và hệ sinh thái.

Thời gian qua, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, dự án và chính sách liên quan đến thích ứng với BĐKH. Các hoạt động không chỉ tập trung vào phòng, chống thiên tai mà ngày càng mở rộng sang bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nước, bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, phát triển sinh kế bền vững, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát huy kiến thức bản địa. 

Tăng cường giám sát khí hậu và cảnh báo sớm thiên tai

Một trong những kết quả quan trọng trong nâng cao năng lực thích ứng của Việt Nam là sự phát triển của hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn, giám sát BĐKH và cảnh báo sớm thiên tai. Hệ thống thể chế, chính sách và pháp luật về phòng, chống thiên tai và khí tượng thủy văn từng bước được hoàn thiện; nhiều chương trình, dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng quan trắc, công nghệ dự báo và truyền tin cảnh báo được triển khai.

Mạng lưới khí tượng thủy văn quốc gia hiện có 2.807 trạm quan trắc, bao gồm 215 trạm khí tượng bề mặt, 14 trạm bức xạ, 1.871 trạm đo mưa độc lập và tự động, 426 trạm thủy văn, 27 trạm hải văn, 6 trạm thám không vô tuyến, 8 trạm đo gió trên cao, 10 trạm ra đa thời tiết, 3 trạm đo tổng lượng ô-dôn và bức xạ cực tím, 18 trạm định vị sét, 89 trạm đo môi trường không khí và nước, 95 trạm đo mặn, 19 trạm giám sát BĐKH, 1 trạm giám sát khí hậu toàn cầu, 1 trạm thu ảnh vệ tinh khí tượng, 3 trạm quan trắc tài nguyên và môi trường biển và 1 trạm trung tâm. Quy mô mạng lưới này tạo cơ sở dữ liệu quan trọng cho theo dõi diễn biến khí hậu, dự báo thời tiết và cảnh báo các loại hình thiên tai.

Năng lực dự báo khí tượng thủy văn cũng từng bước được nâng cao, đặc biệt đối với các hiện tượng có khả năng gây thiệt hại lớn. Việt Nam đã có khả năng cảnh báo bão trước 5 ngày và áp thấp nhiệt đới trước 3 ngày. Tần suất phát tin cảnh báo, dự báo bão và áp thấp nhiệt đới cũng được nâng lên từ 4 - 8 bản tin/ngày tùy theo diễn biến,… Nhìn tổng thể, việc chuyển từ dự báo thiên tai đơn thuần sang cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu quan trắc và bản đồ nguy cơ đã góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, cho phép chính quyền và cộng đồng có thêm thời gian chuẩn bị, sơ tán và bảo vệ tài sản.

Chủ động ứng phó với thiên tai, chống ngập và tăng cường an toàn cơ sở hạ tầng

Năng lực chống chịu trước thiên tai còn được thể hiện thông qua việc đầu tư và củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai. Các quy hoạch phát triển, quy chuẩn xây dựng tại những khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng thiên tai từng bước được hoàn thiện; nhiều công trình phòng, chống thiên tai trọng điểm và cấp bách được xây dựng, sửa chữa và nâng cấp.

Tổ chức bộ máy phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được kiện toàn từ trung ương đến địa phương. Phương châm “bốn tại chỗ” tiếp tục được áp dụng rộng rãi, qua đó tăng khả năng huy động nguồn lực tại chỗ và phản ứng nhanh khi thiên tai xảy ra.

Hiệu quả của các giải pháp này có thể được phản ánh qua xu hướng giảm thiệt hại. Trong 10 năm gần đây, số người chết và mất tích do thiên tai bình quân khoảng 317 người/năm, giảm 38% so với mức bình quân 509 người/năm của giai đoạn 10 năm trước đó. Đây là chỉ dấu quan trọng cho thấy năng lực phòng ngừa, ứng phó và phục hồi trước thiên tai đã được cải thiện.

Việc quy hoạch khu dân cư ứng phó với BĐKH và hệ thống cụm, tuyến dân cư vượt lũ tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng tạo ra những kết quả thực tiễn đáng kể.

An toàn hồ chứa là một cấu phần quan trọng khác của khả năng chống chịu. Cả nước hiện có khoảng 6.750 hồ chứa thủy lợi. Phần lớn các hồ chứa lớn có dung tích từ 3 triệu m³ trở lên đã được sửa chữa, nâng cấp. Khoảng 100% hồ chứa được kiểm tra theo quy định; 90% số hồ có cửa van có quy trình vận hành được phê duyệt; 86% được đăng ký an toàn đập và 77% đã lập phương án ứng phó thiên tai. Đối với hồ có dung tích trên 10 triệu m³, 96/113 hồ đã được đầu tư sửa chữa bảo đảm an toàn; nhóm hồ từ 3 - 10 triệu m³ cũng cơ bản được nâng cấp, chỉ còn 28/447 hồ chưa hoàn thành.

Các công trình chống ngập, kiểm soát triều cường và xâm nhập mặn tại Thành phố Hồ Chí Minh và ĐBSCL cũng góp phần tăng cường an ninh nước và khả năng chống chịu của các trung tâm đô thị, vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm.

Nâng cao khả năng bảo đảm an ninh lương thực

Nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình sản xuất thiên về tối đa hóa sản lượng sang mô hình linh hoạt hơn, chú trọng hiệu quả kinh tế, sử dụng tài nguyên tiết kiệm và thích ứng với điều kiện khí hậu thay đổi.

Diện tích đất trồng lúa khoảng 3,8 triệu ha được duy trì và sử dụng linh hoạt. Hệ thống kiểm soát dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi và thủy sản từng bước được xây dựng, đồng thời cơ quan quản lý chuyên ngành đã đưa ra các hướng dẫn về phòng, chống dịch bệnh liên quan đến biến động thời tiết và khí hậu.

Hạ tầng thủy lợi cũng được điều chỉnh theo hướng đa mục tiêu, phục vụ không chỉ sản xuất lúa mà còn cây trồng cạn, cây công nghiệp có giá trị cao và nuôi trồng thủy sản. Tại ĐBSCL, 12 dự án thủy lợi trực tiếp phục vụ nuôi trồng thủy sản và 94 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản đã được triển khai. 

Tăng cường bảo đảm an ninh nước

BĐKH làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và cạnh tranh sử dụng nước giữa các ngành, các vùng. Do đó, nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài nguyên nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Việt Nam đã đẩy mạnh đầu tư nâng cấp và hiện đại hóa các hệ thống thủy lợi, trong đó có các công trình quan trọng như Cái Lớn - Cái Bé và âu thuyền Ninh Quới trên hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp. Nhiều công trình đầu mối đã phát huy hiệu quả trong trữ nước, cấp nước và phòng, chống lũ như hồ Cửa Đạt, cống Đò Điểm, hồ Tả Trạch, hồ Định Bình và hệ thống thủy lợi Sông Ray.

Công tác điều tra cơ bản và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước được tăng cường. Nguồn nước mặt trên các lưu vực sông đã được điều tra, đánh giá; danh mục và bản đồ sông, suối được thiết lập; dòng chảy tối thiểu được xác định cho 11/13 dòng chính của các lưu vực sông lớn. Bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cơ bản đã phủ 100% diện tích cả nước, trong khi bản đồ tỷ lệ 1:100.000 đạt gần 30% diện tích.

Cùng với đó, chính sách sử dụng nước tiết kiệm và kiểm soát khai thác nước dưới đất từng bước được hoàn thiện,… Những kết quả trên cho thấy quản trị tài nguyên nước đang từng bước chuyển sang hướng dựa trên thông tin, quy hoạch lưu vực sông và sử dụng nước tiết kiệm, tạo nền tảng quan trọng cho thích ứng dài hạn với BĐKH.

Xây dựng cộng đồng có khả năng thích ứng hiệu quả

Cộng đồng là cấp chịu tác động trực tiếp của BĐKH và thiên tai, đồng thời cũng là chủ thể đầu tiên tham gia ứng phó. Vì vậy, nâng cao năng lực cộng đồng có vai trò quyết định đối với khả năng chống chịu của xã hội.

Thích ứng dựa vào cộng đồng được thúc đẩy thông qua đa dạng hóa sinh kế, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, thay đổi quy mô và phạm vi sản xuất, đồng thời ứng dụng khoa học - công nghệ. Khoảng 200.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản, trồng ngô, hoa màu và cây thức ăn chăn nuôi, đặc biệt tại ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng.

Nhiều mô hình sinh kế thích ứng được thí điểm trên cả ba miền, bao gồm phục hồi và bảo vệ rừng; nông nghiệp xanh, ít phát thải; kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và du lịch sinh thái; làng thông minh với khí hậu; làng sinh thái thích ứng dựa vào cộng đồng; cộng đồng các-bon thấp và các mô hình sản xuất tích hợp theo hướng sinh thái khép kín.

Bảo vệ, phát triển bền vững rừng và bảo tồn đa dạng sinh học

Hệ sinh thái rừng đóng vai trò quan trọng trong giảm nhẹ thiên tai, điều hòa nước, hạn chế xói mòn, bảo vệ bờ biển, hấp thụ các-bon và duy trì đa dạng sinh học. Vì vậy, bảo vệ và phục hồi rừng là một giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái có hiệu quả dài hạn.

Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách quan trọng như Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021 - 2025; Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Đề án trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2030; Đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với BĐKH và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030,...

Công tác bảo tồn đa dạng sinh học cũng đạt được nhiều kết quả. So với năm 2015, số lượng khu bảo tồn tăng thêm 6 khu, tương ứng diện tích tăng 66.693,67 ha. Cả nước hiện có 172 khu bảo tồn với tổng diện tích khoảng 2.493.843,67 ha, trong đó có 10 khu bảo tồn biển với tổng diện tích 187.810,93 ha. Số lượng loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tăng từ 83 lên 99 loài,…

Một số giải pháp nâng cao khả năng chống chịu và năng lực thích ứng 

Để nâng cao hơn nữa khả năng chống chịu trước BĐKH, cần tập trung vào một số giải pháp, định hướng. Hiện đại hóa hệ thống giám sát và cảnh báo sớm theo hướng tích hợp. Cần tăng cường kết nối dữ liệu khí tượng, thủy văn, địa chất, đất đai, dân cư và hạ tầng; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, viễn thám và mô hình số trong dự báo rủi ro. Đồng thời, cần chuyển từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo dựa trên tác động, giúp chính quyền và người dân hiểu rõ thiên tai có thể gây ra hậu quả gì và cần hành động như thế nào.

Tích hợp BĐKH vào quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng cần tính đến điều kiện khí hậu tương lai, đặc biệt đối với đê điều, hồ chứa, giao thông, đô thị, hệ thống cấp nước và thoát nước. Các giải pháp công trình cần được kết hợp với giải pháp tự nhiên như phục hồi rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước và không gian trữ nước.

Thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp thích ứng và ít phát thải. Cần tiếp tục đa dạng hóa sản xuất, phát triển giống chống chịu, tối ưu lịch thời vụ, sử dụng nước hiệu quả, mở rộng mô hình nông nghiệp sinh thái và tăng cường liên kết chuỗi giá trị. Bảo hiểm nông nghiệp và các công cụ tài chính rủi ro cần được mở rộng để nâng cao khả năng phục hồi sau thiên tai.

Tăng cường quản trị tài nguyên nước theo lưu vực sông. Quản lý nước cần dựa trên khả năng cung cấp thực tế, nhu cầu sử dụng, dòng chảy môi trường và các kịch bản BĐKH. Đặc biệt cần kiểm soát khai thác nước dưới đất, sử dụng nước tiết kiệm và nâng cao hiệu quả vận hành các hệ thống thủy lợi. Lấy cộng đồng làm trung tâm của thích ứng; tăng cường đào tạo kỹ năng ứng phó, phát huy kiến thức địa phương, nâng cao sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch và giám sát thích ứng. Các mô hình sinh kế thích ứng cần được đánh giá về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trước khi nhân rộng.

Mở rộng các giải pháp dựa vào hệ sinh thái, bảo vệ rừng tự nhiên, phục hồi rừng ngập mặn, bảo tồn đất ngập nước, rạn san hô và thảm cỏ biển cần được coi là một phần của hệ thống cơ sở hạ tầng chống chịu. Đây là hướng tiếp cận có khả năng đồng thời giảm rủi ro thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, hấp thụ các-bon và hỗ trợ sinh kế.

Tăng cường cơ chế tài chính cho thích ứng, nguồn lực công cần được ưu tiên cho các khu vực và nhóm dân cư dễ bị tổn thương; đồng thời huy động nguồn lực tư nhân, bảo hiểm, tài chính khí hậu và các cơ chế đầu tư xanh. Hiệu quả đầu tư thích ứng cần được đánh giá không chỉ dựa trên chi phí công trình mà cả giá trị thiệt hại tránh được và các đồng lợi ích về xã hội, môi trường.

Trong thời gian tới, thích ứng cần được đặt trong tổng thể phát triển bền vững và quản trị rủi ro, với trọng tâm là nâng cao chất lượng thông tin khí hậu, tăng cường năng lực thể chế và cộng đồng, tích hợp BĐKH vào quy hoạch và đầu tư, phát triển sinh kế bền vững, bảo đảm an ninh nước và lương thực, đồng thời đẩy mạnh các giải pháp dựa vào hệ sinh thái; xây dựng một xã hội có khả năng chống chịu và chủ động thích ứng với khí hậu. Đây là điều kiện nền tảng để bảo đảm an ninh con người, duy trì động lực tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Nguyễn Tiến Dũng