news
Nghị quyết 20: Kiến tạo sức mạnh của quốc gia biển

Nghị quyết 20: Kiến tạo sức mạnh của quốc gia biển

Thứ ba, 18/8/2026, 06:41 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác lập bước chuyển từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển từng ngành kinh tế biển sang kiến tạo sức mạnh tổng hợp của một quốc gia biển. Từ góc nhìn quản trị, kinh tế, khoa học - công nghệ và thực tiễn doanh nghiệp, PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi, TS. Dư Văn Toán, PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng và doanh nhân Nguyễn Thị Hải Bình cùng cho rằng, Việt Nam phải tạo ra những đột phá đồng bộ về thể chế, quy hoạch không gian biển, công nghệ và chuỗi giá trị.

Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20)Nghị quyết được ban hành sau tám năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Những kết quả đạt được trong giai đoạn vừa qua đã góp phần nâng cao nhận thức về vị trí của biển; thúc đẩy hoàn thiện chính sách, đầu tư hạ tầng, phát triển kinh tế biển và củng cố quốc phòng, an ninh.

Tuy nhiên, Nghị quyết 20 cũng đã chỉ ra nhiều hạn chế: Quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển; thể chế, chính sách thiếu đồng bộ; chức năng quản lý còn chồng chéo; kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; khoa học, công nghệ, điều tra cơ bản và nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu. Ô nhiễm môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản, biến đổi khí hậu và tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp tiếp tục đặt ra những thách thức lớn.

anh-bai-chuyen-gia_1786593830.png
 Không gian biển tích hợp là nơi điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, cảng - logistics và bảo tồn hệ sinh thái phát triển hài hòa. Ảnh: minh họa (có sử dụng AI).

Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là mở rộng mục tiêu từ phát triển bền vững kinh tế biển sang xây dựng một quốc gia biển mạnh toàn diện. Biển không chỉ được nhìn nhận như một không gian tài nguyên hoặc địa bàn phát triển của một số ngành kinh tế, mà là không gian sinh tồn, phát triển, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Từ các góc độ quản trị biển, kinh tế, khoa học - công nghệ, nuôi biển và tổ chức chuỗi giá trị, các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp đều chỉ ra rằng tiềm năng tự nhiên mới là điểm xuất phát. Năng lực thể chế, chất lượng quản trị, khả năng làm chủ công nghệ và sự tham gia của doanh nghiệp mới quyết định lợi thế biển có thể được chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia hay không.

PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi: Phải quản trị biển như một không gian thống nhất

anh-chu-hoi_1786592602.jpg
PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam

Theo PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, điểm cốt lõi trong tư duy của Nghị quyết 20 là chuyển từ quản lý theo từng ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.

Trong một thời gian dài, các hoạt động trên biển được quy hoạch và quản lý tương đối tách biệt. Hàng hải có hệ thống quy hoạch riêng; thủy sản, du lịch, dầu khí, năng lượng, bảo tồn thiên nhiên và đô thị ven biển cũng được điều chỉnh bởi những quy định, phương thức quản lý khác nhau.

Cách tiếp cận này có thể đáp ứng yêu cầu quản lý của từng ngành, nhưng khó giải quyết hiệu quả những quan hệ đa chiều đang hình thành trên cùng một vùng biển. Một khu vực có thể đồng thời là tuyến hàng hải, ngư trường, vùng nuôi trồng thủy sản, địa điểm phát triển điện gió ngoài khơi, khu vực bảo tồn đa dạng sinh học hoặc nơi có ý nghĩa đối với quốc phòng, an ninh.

Nếu thiếu cơ chế điều phối tổng hợp, hoạt động của ngành này có thể thu hẹp không gian phát triển hoặc gây tác động bất lợi cho ngành khác. Xung đột lợi ích vì thế không chỉ xảy ra giữa khai thác và bảo tồn, mà còn có thể xuất hiện giữa hàng hải, năng lượng, thủy sản, du lịch và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.

PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng, biển phải được tiếp cận như một không gian liên thông, thống nhất và có tính ba chiều, gồm mặt biển, tầng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Quy hoạch không gian biển vì vậy không thể là phép cộng cơ học của các quy hoạch ngành, mà phải trở thành công cụ phân bổ, điều phối và xử lý xung đột trong sử dụng không gian.

“Lợi thế tự nhiên chỉ là điều kiện cần”, PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh khi phân tích mối quan hệ giữa tiềm năng biển với năng lực quản trị và làm chủ khoa học - công nghệ.  Từ cách tiếp cận này, yêu cầu đầu tiên là hoàn thiện cơ chế quản trị biển thống nhất, xác định rõ cơ quan có trách nhiệm điều phối các hoạt động liên ngành, liên vùng. Mỗi quyết định phân bổ không gian biển cần được xem xét trong quan hệ tổng thể giữa lợi ích kinh tế, môi trường, xã hội, quốc phòng và an ninh.

Yêu cầu thứ hai là nâng cao chất lượng quy hoạch. Quy hoạch phải dựa trên điều tra cơ bản, dữ liệu khoa học, sức chịu tải của môi trường và giá trị của từng hệ sinh thái. Việc bố trí một dự án cảng biển, điện gió, nuôi biển hoặc du lịch cần được đánh giá không chỉ về hiệu quả tài chính mà còn về tác động tích lũy đối với những hoạt động khác trong cùng không gian.

Yêu cầu thứ ba là xây dựng nền tảng dữ liệu biển đủ mạnh. Quản trị hiện đại không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hoặc các đợt khảo sát riêng lẻ. Dữ liệu về tài nguyên, môi trường, hạ tầng, thiên tai, giao thông hàng hải và hoạt động kinh tế cần được số hóa, cập nhật và chia sẻ giữa các cơ quan.

PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi gọi đây là quá trình ra biển bằng “đôi chân” thể chế và công nghệ. Thể chế tạo ra cách thức tổ chức và điều phối, trong khi khoa học – công nghệ giúp nhận diện chính xác tiềm năng, giới hạn sinh thái và rủi ro của từng khu vực.

Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước hiện có 21 tỉnh, thành phố giáp biển. Không gian phát triển của nhiều địa phương được mở rộng, tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa miền núi, trung du, vùng ven biển, cảng biển và các trung tâm logistics. Tuy nhiên, mở rộng địa giới chỉ tạo ra cơ hội. Cơ hội đó chỉ trở thành động lực khi các địa phương hình thành được quy hoạch tích hợp và cơ chế liên kết thực chất, thay vì tiếp tục phát triển theo ranh giới hành chính hoặc lợi ích cục bộ.

Công nghệ và doanh nghiệp phải cùng kiến tạo các chuỗi giá trị biển mới

Nếu quản trị và thể chế tạo ra khuôn khổ phát triển, khoa học - công nghệ và năng lực tổ chức của doanh nghiệp sẽ quyết định Việt Nam có thể tiến bao xa trong những lĩnh vực kinh tế biển mới.

du-va-n-toa-n-20260514202146-11564725_1786592847.jpg
TS. Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển

TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhìn nhận, điện gió ngoài khơi là một ví dụ điển hình. Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển các dự án điện gió ngoài khơi với tổng công suất từ 6-10 GW. Đây không chỉ là mục tiêu bổ sung nguồn điện sạch mà còn mở ra cơ hội hình thành một ngành công nghiệp và dịch vụ biển có sức lan tỏa lớn.

Điện gió ngoài khơi có thể tạo ra nhu cầu đối với nhiều lĩnh vực như đóng tàu chuyên dụng, sản xuất kết cấu thép và cáp ngầm, khảo sát địa chất, cảng biển, logistics, vận hành và bảo dưỡng. Nếu doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, giá trị của ngành sẽ không chỉ nằm ở sản lượng điện mà còn được thể hiện qua năng lực công nghiệp, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng xuất khẩu dịch vụ.

Tuy nhiên, theo TS. Dư Văn Toán, yêu cầu quan trọng hiện nay là “phải sớm hoàn thiện hành lang pháp lý”. Các dự án điện gió ngoài khơi có quy mô vốn lớn, trong khi quá trình khảo sát, chuẩn bị và xây dựng thường kéo dài. Do đó, nhà đầu tư cần một môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Những vấn đề như phân bổ không gian biển, khảo sát, cấp phép, đánh giá tác động môi trường, sử dụng hoặc thuê mặt biển và đáy biển phải được quy định rõ ràng.

Quy hoạch phát triển nguồn điện cũng phải đồng bộ với quy hoạch không gian biển, quỹ đất dành cho trạm biến áp, hệ thống đường dây kết nối và hạ tầng cảng phục vụ thi công, vận hành. Nếu các cấu phần này được triển khai riêng rẽ, dự án vẫn có thể gặp ách tắc dù tiềm năng tài nguyên đã được xác định.

Ở góc độ bảo tồn, TS. Dư Văn Toán cho rằng, phần không gian biển được phân bổ cho mỗi trang trại điện gió ngoài khơi còn có thể tạo ra giá trị sinh thái bổ sung. Nếu được quy hoạch, quản lý và giám sát theo các tiêu chí về bảo tồn đa dạng sinh học, những khu vực này có thể được xem xét công nhận là các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác ngoài khu bảo tồn (OECM). Qua đó, phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ cung cấp năng lượng sạch mà còn có thể góp phần mở rộng diện tích biển được bảo tồn hiệu quả, hỗ trợ Việt Nam hướng tới mục tiêu đưa diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia theo định hướng của Trung ương.

Từ trường hợp điện gió ngoài khơi có thể thấy, làm chủ công nghệ biển không có nghĩa Việt Nam phải ngay lập tức tự sản xuất toàn bộ thiết bị. Vấn đề quan trọng là lựa chọn những khâu mà Việt Nam có lợi thế, có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và có ý nghĩa đối với năng lực tự chủ quốc gia.

Đó có thể là khảo sát biển, thiết kế và chế tạo kết cấu ngoài khơi, dịch vụ cảng, vận tải biển, vận hành, bảo dưỡng, quan trắc môi trường, xử lý dữ liệu hoặc tích hợp hệ thống. Thông qua các dự án lớn, doanh nghiệp và đội ngũ kỹ sư Việt Nam có thể từng bước tích lũy năng lực, tiến tới tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Bên cạnh năng lượng, nuôi biển công nghiệp cũng được xác định là một trong những không gian tăng trưởng mới. Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8% mỗi năm và tỷ trọng nuôi biển đạt 15% tổng giá trị sản xuất thủy sản.

tdsdmdquy2229_1786592886.jpg
PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng - Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam

Theo PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, trong bối cảnh dư địa nuôi trồng thủy sản trên đất liền ngày càng thu hẹp, “đại dương chính là cánh đồng cuối cùng” để hình thành động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, tiềm năng nuôi biển của Việt Nam vẫn chưa được khai thác tương xứng. Hoạt động sản xuất chủ yếu tập trung ở vùng ven bờ, quy mô nhỏ, thiết bị còn đơn giản; nguồn giống, thức ăn, bảo hiểm, tín dụng và hạ tầng dịch vụ chưa hình thành thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh.

PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, điểm nghẽn không chỉ nằm ở công nghệ lồng nuôi mà còn ở phương thức tổ chức sản xuất. Nếu tiếp tục nuôi nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch và không gắn với chuỗi giá trị, ngành nuôi biển khó tạo ra sản lượng hàng hóa lớn, đồng nhất về chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.

Chuyển từ khai thác sang canh tác biển vì vậy phải được hiểu là thay đổi toàn bộ tư duy phát triển. Nuôi biển không chỉ tạo ra sản phẩm thủy sản mà còn phải gắn với việc nuôi dưỡng môi trường, bảo vệ hệ sinh thái, phục hồi nguồn lợi và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.

Để thực hiện mục tiêu này, chính sách giao khu vực biển cần rõ ràng và ổn định hơn. Người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp phải có cơ sở pháp lý đủ dài hạn để đầu tư vào lồng nuôi công nghiệp, hệ thống quan trắc, giống, thức ăn, chế biến và dịch vụ hậu cần. Tín dụng dài hạn và bảo hiểm nuôi biển cũng là điều kiện quan trọng bởi hoạt động ngoài khơi có chi phí đầu tư lớn và chịu nhiều rủi ro từ thiên tai.

ceo-nguyen-thi-hai-binh-2_1786592738.png
Bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group và là thành viên tích cực của Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho rằng phát triển nuôi biển phải gắn với quy hoạch tích hợp và “xây dựng chuỗi giá trị khép kín”.

Bà Nguyễn Thị Hải Bình đề xuất nghiên cứu phát triển vùng nuôi biển khoảng 100ha tại Côn Đảo theo hướng kết hợp nuôi biển công nghệ cao với du lịch trải nghiệm và chuỗi giá trị bền vững. Theo đề xuất này, vùng nuôi không chỉ là nơi sản xuất thủy sản mà còn có thể tạo sinh kế cho người dân, trở thành sản phẩm du lịch và góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển.

Đề xuất của doanh nghiệp cho thấy nuôi biển hiện đại cần được đặt trong quan hệ với các ngành kinh tế khác. Quy hoạch vùng nuôi phải được thực hiện đồng thời với quy hoạch du lịch, giao thông hàng hải, điện gió ngoài khơi và bảo tồn thiên nhiên để hạn chế xung đột về không gian.

Cùng một vùng biển có thể tạo ra nhiều lớp giá trị nếu được tổ chức khoa học. Hoạt động nuôi biển có thể kết hợp với năng lượng tái tạo, dịch vụ hậu cần, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường. Tuy nhiên, việc tích hợp phải dựa trên đánh giá sức chịu tải và khả năng phục hồi của hệ sinh thái, không phải bằng cách tập trung quá nhiều hoạt động vào cùng một khu vực.

Quan điểm của PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng và bà Nguyễn Thị Hải Bình bổ sung góc nhìn thực tiễn cho những phân tích về thể chế và công nghệ. Nếu không có doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng tham gia, những định hướng về kinh tế biển xanh khó được chuyển hóa thành mô hình sản xuất cụ thể. Ngược lại, doanh nghiệp cũng không thể đầu tư dài hạn nếu thiếu quy hoạch, quyền sử dụng không gian biển, hạ tầng, dữ liệu và chính sách tín dụng phù hợp.

Cùng với đó, khoa học - công nghệ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển và bảo vệ biển. Các công cụ viễn thám, cảm biến, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mô hình số không chỉ hỗ trợ khai thác, sản xuất mà còn giúp theo dõi chất lượng môi trường, dự báo thiên tai, giám sát biến động bờ biển và đánh giá tác động tích lũy của các dự án và bảo tồn hệ sinh thái. Từ đó, bảo đảm các hoạt động kinh tế được triển khai trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển.

Dù nhìn từ những góc độ khác nhau, ý kiến của các chuyên gia và doanh nghiệp đều gặp nhau ở một điểm: Quản trị, thể chế, công nghệ và doanh nghiệp là những thành tố có quan hệ chặt chẽ. Quy hoạch không thể chính xác nếu thiếu dữ liệu khoa học. Công nghệ khó được triển khai nếu thiếu hành lang pháp lý. Nguồn lực đầu tư khó phát huy hiệu quả nếu bộ máy quản trị vẫn phân tán. Chuỗi giá trị khó hình thành nếu người dân và doanh nghiệp không có không gian đầu tư ổn định.

Ngày 7/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW. Chương trình đã xác định 9 nhóm nhiệm vụ có tính đột phá trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện. Trong đó, hoàn thiện thể chế và đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia được xác định là một trong những nền tảng tạo đột phá cho phát triển quốc gia biển mạnh.

Nghị quyết số 20-NQ/TW đã mở ra tầm nhìn mới về một quốc gia biển mạnh. Để hiện thực hóa tầm nhìn ấy, Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên. Sức mạnh quốc gia từ biển phải được kiến tạo bằng một nền quản trị hiện đại, thể chế đủ sức khơi thông nguồn lực, năng lực làm chủ khoa học - công nghệ và những chuỗi giá trị có sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, cộng đồng.

 

Hồng Minh (thực hiện)