news
Xuất bản: Thứ sáu, 21/8/2026, 06:53 (GMT+7)

thumb-2_1787125066.jpg

ke-dong_1787111438.jpg

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh các ngành kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh; khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng cư dân ven biển. 

Trong định hướng đó, nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ sinh học biển ngày càng giữ vai trò quan trọng. Nghị quyết số 20-NQ/TW không gọi tên rong biển như một ngành kinh tế riêng, nhưng đây là một trong những nguồn tài nguyên sinh học có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị mới nếu được tổ chức sản xuất, chế biến và phát triển thị trường bài bản.

Với Khánh Hòa - địa phương có lợi thế về biển, nuôi trồng thủy sản, nghiên cứu khoa học và công nghiệp chế biến - hướng đi này đang dần hiện hữu từ những vùng rong nho ven biển.

 

tit-1_1787125497.jpg

 

 

Rong biển không phải đối tượng canh tác mới đối với cư dân ven biển. Điều đang thay đổi là cách nhìn nhận giá trị của nó. Thay vì chủ yếu thu hoạch để tiêu thụ trực tiếp, rong biển có thể đi qua nhiều công đoạn hơn, từ vùng nguyên liệu đến sơ chế, bảo quản, chế biến thực phẩm và nghiên cứu sản xuất ra các sản phẩm có giá trị gia tăng.

Tại Nam Trung Bộ, rong nho là một trong những đối tượng đã được thương mại hóa khá rõ nét. Theo ông Nguyễn Quang Duy, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Rong biển DT Khánh Hòa (DT Group), điều kiện nhiệt độ, độ mặn và môi trường tại khu vực này phù hợp với nhiều loại rong biển, trong đó rong nho là đối tượng có giá trị kinh tế.

ke-dong_1787111438.jpg

khai-thac-va-thu-hoach-rong-nho-1_1787110338.jpg
Tại Nam Trung Bộ, rong nho là một trong những đối tượng đã được thương mại hóa khá rõ nét.

ke-dong_1787111438.jpg

Sau gần 15 năm phát triển, DT Group đã hình thành vùng nguyên liệu rong nho khoảng 80 ha tại khu vực Nam Trung Bộ. Sản phẩm rong nho của DT Group đã được xuất khẩu sang Nhật Bản và Mỹ, trong đó có việc đưa rong nho được nuôi trồng tại Khánh Hòa trở lại thị trường Nhật Bản - nơi loại rong này vốn được biết đến và sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ là diện tích vùng trồng mà ở việc vùng nguyên liệu từng bước được kết nối với người nuôi, công nghệ bảo quản, nhà máy chế biến và thị trường.

 

nhom-1_1787111026.jpg
Hoạt động khai thác và thu hoạch rong nho tại vùng nguyên liệu của DT Group. Rong nho sau khi thu hoạch tại trang trại được nuôi lại 5 đến 7 ngày để khử khuẩn và tăng hàm lượng dinh dưỡng.

ke-dong_1787111438.jpg

“Phần lớn vùng nguyên liệu của doanh nghiệp được phát triển thông qua liên kết với các hộ dân tại Khánh Hòa và các tỉnh Nam Trung Bộ. Một số diện tích từng nuôi các đối tượng thủy sản nhưng hiệu quả không cao được chuyển sang trồng rong nho. Người dân tham gia chuỗi được hướng dẫn kỹ thuật và kết nối đầu ra, qua đó có thêm lựa chọn sinh kế tại vùng ven biển”, ông Nguyễn Quang Duy chia sẻ.

Đây là điểm đáng quan tâm khi nhìn rong biển dưới góc độ kinh tế biển xanh. Một ngành hàng chỉ thực sự tạo được giá trị cho địa phương khi lợi ích không dừng ở doanh nghiệp chế biến mà lan tỏa tới vùng nguyên liệu và cộng đồng sản xuất. Hiệu quả vì vậy không chỉ được tính bằng sản lượng thu hoạch, mà còn ở khả năng tạo việc làm, ổn định đầu ra và đưa người dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Tháng 6/2026, chuỗi liên kết rong nho của DT Group được cấp chứng nhận hữu cơ quốc gia theo TCVN 11041 cho diện tích bước đầu 9,81 ha tại khu vực Ninh Hòa, với 5 hộ dân tham gia liên kết. Vùng nuôi được kiểm soát về nguồn nước, môi trường và truy xuất nguồn gốc; năng lực sản xuất dự kiến khoảng 300 tấn rong nho tươi mỗi năm.

ke-dong_1787111438.jpg

tham-quan-mo-hinh-nuoi-rong-nho-7-ok_1787111279.jpg

ke-dong_1787111438.jpg

“So với tổng diện tích vùng nguyên liệu khoảng 80 ha, 9,81 ha chưa phải con số lớn. Nhưng ý nghĩa nằm ở bước chuyển từ có vùng nguyên liệu sang có vùng nguyên liệu được chuẩn hóa. Trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, năng lực cạnh tranh của vùng nuôi không còn chỉ được quyết định bởi năng suất. Việc xác định sản phẩm được nuôi ở đâu, theo quy trình nào, nguồn nước được kiểm soát ra sao và trách nhiệm của từng mắt xích ngày càng trở thành một phần của giá trị sản phẩm”, CEO DT Group chia sẻ.

 

tit-2_1787125573.jpg

Một trong những hạn chế của nhiều sản phẩm nông nghiệp, thủy sản Việt Nam lâu nay là giá trị chủ yếu vẫn nằm ở khâu nguyên liệu. Rong biển cũng đứng trước bài toán tương tự.

Theo ông Nguyễn Quang Duy, rong nho trong nước một thời gian dài chủ yếu được tiêu thụ hoặc xuất khẩu dưới dạng tươi, trong khi chế biến sâu còn hạn chế. Với sản phẩm có thời gian bảo quản ngắn và phụ thuộc nhiều vào điều kiện vận chuyển, nếu chỉ bán tươi, phạm vi thị trường sẽ bị thu hẹp và giá trị nguyên liệu chưa được khai thác đầy đủ. Vì vậy, phần đáng chú ý trong câu chuyện rong biển tại Khánh Hòa không chỉ là DT Group có bao nhiêu hecta rong nho, mà là bước chuyển từ sản xuất rong sang tạo sản phẩm từ rong.

ke-dong_1787111438.jpg

nhom-2_1787119713.jpg
Ảnh 1: Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan đến thăm và làm việc tại DT Group.
Ảnh 2: TS. Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong một lần đến thăm DT Group.
Ảnh 3+4: Đối tác quốc tế đến thăm và làm việc tại DT Group.

ke-dong_1787111438.jpg

Từ nguyên liệu ban đầu, chuỗi sản phẩm từng bước được mở rộng từ rong nho tươi, rong nho tách nước sang snack, bột, sốt gia vị, đồ uống và một số sản phẩm chế biến khác. Rong nho tách nước Okinawa của doanh nghiệp đã được công nhận sản phẩm OCOP 4 sao.

Ở góc độ ngành hàng, sự thay đổi này quan trọng hơn việc có thêm một số sản phẩm mới trên thị trường. Khi nguyên liệu có thể đi vào nhiều dòng sản phẩm, giá trị không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thời gian tiêu thụ ngắn của rong tươi. Phần đạt tiêu chuẩn cao có thể phục vụ tiêu thụ trực tiếp hoặc xuất khẩu, trong khi những phần nguyên liệu phù hợp khác được đưa vào chế biến.

“Giá trị khi đó được tạo thêm từ công nghệ chứ không chỉ từ việc tăng sản lượng. Hướng đầu tư vào khoa học - công nghệ của chúng tôi cũng đang mở rộng ra phạm vi lớn hơn. Đầu năm 2026, DT Group ký biên bản ghi nhớ hợp tác với phía Biotion của Hàn Quốc nhằm nghiên cứu, triển khai các dự án nuôi biển công nghệ cao và ứng dụng công nghệ sinh học vào phát triển kinh tế biển. Tháng 6/2026, sự hợp tác được cụ thể hóa bằng Dự án Moina Tech quy mô 23 ha tại xã Tu Bông, Khánh Hòa do DT Group phối hợp với Tập đoàn Biotion của Hàn Quốc triển khai, ứng dụng công nghệ được chuyển giao từ Biotion Korea để phát triển Moina - nguồn thức ăn tự nhiên phục vụ ương nuôi cá bột và tôm giống. Trước đó, gần 40 doanh nghiệp Hàn Quốc cũng đã đến khảo sát vùng nguyên liệu và quy trình chế biến rong nho của DT Group tại Khánh Hòa, trao đổi khả năng hợp tác và ứng dụng công nghệ”, ông Nguyễn Quang Duy chia sẻ.

Theo ông Duy, dự án Moina Tech không trực tiếp phát triển rong biển, nhưng cho thấy một hướng đi rộng hơn của doanh nghiệp: từ sản xuất một sản phẩm biển cụ thể sang tiếp cận công nghệ sinh học và chuỗi đầu vào phục vụ nuôi biển. Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu phát triển khoa học - công nghệ, công nghệ sinh học biển và nuôi biển công nghệ cao được đặt ra trong Nghị quyết 20.

Nhìn từ rong biển, công nghệ sinh học biển không nhất thiết bắt đầu bằng những khái niệm xa xôi. Nó có thể bắt đầu từ việc nghiên cứu một nguyên liệu để kéo dài thời gian bảo quản, tạo sản phẩm mới, khai thác những thành phần có giá trị và mở rộng phạm vi sử dụng. Khoảng giá trị lớn vì vậy có thể nằm ở những công đoạn sau thu hoạch.

Thị trường cũng đang mở rộng. Sản phẩm rong nho của DT Group đã được đưa vào một số thị trường như Nhật Bản, Hoa Kỳ. Tháng 7/2026, đoàn doanh nghiệp Canada khảo sát vùng nuôi và tổ hợp chế biến tại Khánh Hòa, tìm hiểu sản phẩm rong nho và khả năng kết nối với thị trường Canada, Bắc Mỹ.

 

slide-1_1787119263.jpg
slide-2_1787119271.jpg
slide-3_1787119276.jpg
slide-4_1787119278.jpg
slide-5_1787119288.jpg

Tuy nhiên, việc một doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu chưa đồng nghĩa một ngành hàng đã được hình thành. Muốn rong biển trở thành nguồn tài nguyên kinh tế mới cần có vùng sản xuất phù hợp, nguồn giống ổn định, quy trình kỹ thuật, hệ thống kiểm soát môi trường, tiêu chuẩn sản phẩm, năng lực bảo quản - chế biến và thị trường đủ ổn định để người dân yên tâm đầu tư.

Đặc biệt, phát triển vùng rong phải gắn với quy hoạch không gian nuôi biển và điều kiện sinh thái cụ thể của từng khu vực. Phát triển xanh không có nghĩa thay một đối tượng nuôi bằng một đối tượng khác rồi tiếp tục chạy theo diện tích.

Câu hỏi vì vậy không chỉ là Khánh Hòa có thể trồng thêm bao nhiêu hecta rong biển, mà quan trọng hơn là trồng ở đâu, lựa chọn đối tượng nào và sản phẩm cuối cùng phục vụ thị trường nào?

 

tit-3_1787125623.jpg

Khánh Hòa có nền tảng nuôi trồng thủy sản, hệ thống nghiên cứu biển, doanh nghiệp chế biến và thị trường tiêu dùng gắn với du lịch. Nếu được kết nối đồng bộ, rong biển có thể đi qua nhiều tầng giá trị, từ vùng nguyên liệu đến chế biến, nghiên cứu sản phẩm, phân phối và xuất khẩu.

Thực tiễn của DT Group cho thấy một phần hướng đi đó: liên kết người dân phát triển vùng rong, chuẩn hóa nguyên liệu, đầu tư chế biến, ứng dụng công nghệ và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, để hình thành một ngành hàng, cần có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng sản xuất. Trong đó, vai trò quản lý nhà nước là xác định vùng nuôi phù hợp, hỗ trợ giống, kỹ thuật, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và tạo điều kiện thu hút đầu tư vào chế biến sâu. Việc phát triển rong biển cũng cần bám sát nhu cầu thị trường, tránh mở rộng diện tích khi đầu ra và năng lực chế biến chưa theo kịp.

Vì vậy, thước đo không nên chỉ là bao nhiêu hecta rong biển được trồng, mà quan trọng hơn là mỗi hecta tạo ra bao nhiêu giá trị, bao nhiêu người dân tham gia chuỗi và nguồn tài nguyên biển được sử dụng hiệu quả đến đâu.

nhom-3_1787190386.jpg

 

Từ những vùng rong nho tại Khánh Hòa, có thể thấy giá trị của tài nguyên biển không chỉ nằm ở sản lượng thu hoạch. Một sản phẩm rong tươi, khi đi qua quy trình kiểm soát chất lượng, công nghệ bảo quản, chế biến và hệ thống phân phối, có thể tạo ra một giá trị hoàn toàn khác.

Đó cũng là tinh thần mà Nghị quyết 20-NQ/TW hướng tới: phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và gia tăng giá trị từ tài nguyên. Với Khánh Hòa, rong biển có thể chưa phải một ngành kinh tế lớn, nhưng đang cho thấy tiềm năng trở thành một mắt xích mới trong chuỗi kinh tế biển xanh. Không phải khai thác nhiều hơn từ biển, mà tạo ra nhiều giá trị hơn từ những gì biển có khả năng tái tạo.

ke-dong_1787111438.jpg

box_1787190301.jpg

Tác giả: TRUNG NHÂN     Thiết kế: CHU HỒNG CHÂU

PV
  • Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trả lời trực tuyến về Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi năm 2022

    Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà trả lời trực tuyến về Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi năm 2022

    Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi dự kiến sẽ lấy ý kiến Quốc hội vào tháng 10/2022. Đây là bộ luận có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách trong nhiều năm qua, để từ đó phát huy tối đa nguồn lực đất đai cho phát triển đất nước. Mới đây, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà để giải đáp nhiều vấn đề liên quan đến sửa đổi Luật lần này.

  • Lương Sơn Cảnh Homestay - Điểm đến hấp dẫn

    Lương Sơn Cảnh Homestay - Điểm đến hấp dẫn

    Với bản sắc và thiên nhiên của miền đất xứ Mường, Homestay Lương Sơn Cảnh sẽ mang đến trải nghiệm không gian xanh hoà mình cùng thiên nhiên và nguồn nước trong lành. Được đầu tư xây dựng từ năm 2019 và bắt đầu đưa vào sử dụng từ tháng 6 năm 2022, Lương Sơn Cảnh Homestay sẽ mang đến cho quý khách những phút giây thư giãn sau những ngày mệt nhọc vất vả. Đây là một trong những địa điểm để tập thể, cá nhân, gia đình tổ chức hội họp, team Bulding tái tạo lại năng lượng cho cơ thể với những tiện ích thiết thực.

  • Vai trò của các Nhà khoa học trẻ trong chuyển đổi số và công nghệ số lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững

    Vai trò của các Nhà khoa học trẻ trong chuyển đổi số và công nghệ số lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững

    Ngày 28/7/2022, Tọa đàm: “Vai trò của các Nhà khoa học trẻ trong chuyển đổi số và công nghệ số lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững” do Tạp chí Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ TN&MT tổ chức. Đây là buổi toạ đàm nhằm trao đổi, giải đáp, khuyến khích và định hướng các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phát huy tính xung kích sáng tạo phục vụ hiệu quả phát triển bền vững cho đất nước.

  • Những đóng góp của Ngành Khí tượng thủy văn đối với đất nước

    Những đóng góp của Ngành Khí tượng thủy văn đối với đất nước

    Hoạt động KTTV đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1891, tuy nhiên lịch sử của ngành KTTV Việt Nam được xác định bắt đầu từ ngày 3/10/1945 với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 41 đưa Sở Thiên văn và Đài Thiên văn Phủ Liễn về trực thuộc Bộ Công chính và Giao thông với tên gọi Sở Khí tượng, đánh dấu sự sát nhập cơ quan KTTV thuộc về Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trải qua các thời kỳ, năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, Tổng cục KTTV được thành lập theo Nghị định số 215/CP ngày 5/11/1976 của Chính phủ (trên cơ sở hợp nhất Nha Khí tượng và Cục Thủy văn), mở ra bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của ngành. Cũng năm này, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) - cơ quan chuyên trách của Liên hợp quốc về KTTV.

  • 20 năm tạo dựng nền tảng, khẳng định vị thế, phát triển hội nhập, kiến tạo bền vững

    20 năm tạo dựng nền tảng, khẳng định vị thế, phát triển hội nhập, kiến tạo bền vững

    Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 05 tháng 8 năm 2002.