Nông nghiệp giai đoạn mới không thể chỉ đo bằng sản lượng, mà còn phải tạo giá trị gia tăng, bảo vệ đất và nước, gìn giữ đa dạng sinh học, giảm phát thải, thích ứng với thiên tai, biến đổi khí hậu, đồng thời tạo sinh kế bền vững và không gian sống chất lượng cho nông thôn. Đó vừa là yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là điều kiện để nông sản nâng cao năng lực cạnh tranh trong một thị trường ngày càng coi trọng tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội.
Đó là khẳng định của ông Trần Huy Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, tại Hội thảo khoa học toàn quốc “Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững”, do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Ninh Bình và Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tại Ninh Bình ngày 30/9.
Theo ông Tuấn, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Ninh Bình có diện tích tự nhiên gần 4.000 km², dân số trên 4,4 triệu người, hội tụ không gian sinh thái rất đa dạng: từ đồng bằng, bán sơn địa, núi đá vôi đến vùng ven biển, đất ngập nước, rừng đặc dụng và rừng ngập mặn.
Không gian phát triển mới tạo điều kiện để tỉnh tổ chức lại nền nông nghiệp theo hướng đa ngành, đa sản phẩm, đa giá trị; gắn sản xuất với chế biến, thương mại, logistics, du lịch, bảo tồn thiên nhiên, văn hóa và phát triển kinh tế nông thôn. Đồng thời, sự đa dạng ấy đòi hỏi cách tiếp cận quản trị thống nhất nhưng phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và chủ động trước tác động của biến đổi khí hậu.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa, bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Quy hoạch tỉnh và các đề án trọng tâm tiếp tục cụ thể hóa định hướng này trên các trụ cột kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; chuyển mạnh từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”, phát triển nông nghiệp hiện đại, sinh thái, hiệu quả, gắn với chuỗi giá trị và thị trường. Đại hội cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản trên mỗi héc-ta đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đạt từ 220 triệu đồng trở lên.
Để hiện thực hóa định hướng đó, tỉnh đang triển khai đồng bộ việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030; Đề án chuyển đổi số tỉnh, cùng các chương trình về tăng trưởng xanh, khuyến nông, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế tập thể, sản phẩm OCOP, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường.
Quan điểm xuyên suốt là phát triển nông nghiệp phải đồng thời giải quyết ba bài toán: nâng cao hiệu quả kinh tế; sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường; nâng cao thu nhập và chất lượng sống của người dân nông thôn.
Theo ông Tuấn, thực tiễn bước đầu cho thấy hướng đi này là phù hợp. Toàn tỉnh hiện có trên 400 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, 1.074 hợp tác xã nông nghiệp và trên 120 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm; 279 vùng trồng được cấp mã số, với tổng diện tích trên 7.500 ha.
Nhiều vùng sản xuất lúa chất lượng cao, rau màu, cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi tập trung, thủy sản ven biển đã hình thành. Cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ tưới tiết kiệm, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc từng bước được mở rộng.
Đáng chú ý, từ năm 2024, tỉnh phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam và đối tác Nhật Bản triển khai mô hình canh tác lúa tiết kiệm nước, giảm phát thải, hướng tới tạo tín chỉ các-bon. Đến nay, diện tích thực hiện đã mở rộng lên trên 8.800 ha tại 21 xã; dự kiến vụ Xuân năm 2027 tiếp tục mở rộng lên trên 15.000 ha.
Đây là ví dụ cho thấy yêu cầu giảm phát thải hoàn toàn có thể gắn với đổi mới quy trình sản xuất, tiết kiệm đầu vào, nâng cao hiệu quả và từng bước tiếp cận các cơ chế thị trường mới, khi đáp ứng đầy đủ điều kiện đo lường, báo cáo và thẩm định.
Trong lĩnh vực thủy sản, vùng nuôi ngao đạt chứng nhận ASC tại xã Kim Đông, quy mô khoảng 1.205 ha, đang tạo nền tảng phát triển thủy sản bền vững, gắn với quản lý môi trường, truy xuất nguồn gốc và thị trường xuất khẩu. Trong trồng trọt, chăn nuôi và chế biến, một số phụ phẩm, chất thải đã được thu gom, xử lý và tái sử dụng làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, giá thể, nguyên liệu trồng nấm hoặc năng lượng sinh học, từng bước hình thành các vòng liên kết tuần hoàn trong sản xuất.
Ở mảng kinh tế nông thôn, Ninh Bình cho thấy nông nghiệp sinh thái hoàn toàn có thể gắn kết với di sản và du lịch. Điển hình là Hợp tác xã Sinh Dược, nơi cây thảo dược bản địa được chế biến sâu, gắn với văn hóa làng nghề và dịch vụ trải nghiệm. Toàn tỉnh hiện có 1.001 sản phẩm OCOP, trong đó 7 sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia.
Kết quả này cho thấy, khi sản xuất nông nghiệp được đặt trong một hệ sinh thái gồm văn hóa, cảnh quan, dịch vụ, thương hiệu và thị trường, giá trị tạo ra cho người dân và địa phương sẽ lớn hơn nhiều so với việc chỉ bán sản phẩm thô.
Bài toán biến tiêu chuẩn xanh thành giá trị kinh tế
Bên cạnh kết quả đạt được, Bí thư Tỉnh ủy thẳng thắn nhìn nhận quá trình chuyển đổi còn nhiều khó khăn: sản xuất ở một số nơi vẫn nhỏ lẻ, phân tán; liên kết chuỗi chưa thật bền vững; chế biến sâu và giá trị gia tăng của một số sản phẩm còn thấp; việc thu gom, phân loại, xử lý và tái sử dụng phụ phẩm chưa đồng bộ; dữ liệu về vùng nguyên liệu, chất lượng, môi trường và truy xuất nguồn gốc còn phân tán; năng lực ứng dụng công nghệ giữa các chủ thể chưa đồng đều.
Đặc biệt, ông chỉ ra “nút thắt” lớn nhất của chuyển đổi xanh hiện nay: nếu người sản xuất phải tăng chi phí để đáp ứng tiêu chuẩn xanh, an toàn, hữu cơ, giảm phát thải nhưng thị trường chưa nhận diện và trả giá tương xứng thì rất khó tạo động lực chuyển đổi lâu dài.
Theo ông Tuấn, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn không phải là một phong trào hay tập hợp các mô hình riêng lẻ, mà là quá trình chuyển đổi tổng thể, từ tư duy phát triển, tổ chức không gian sản xuất, công nghệ, dữ liệu đến thị trường và quản trị chuỗi giá trị. Theo đó, cần chuyển từ tăng sản lượng sang tạo giá trị; từ “xử lý chất thải” sang “tài nguyên hóa phụ phẩm”; từ ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ chỗ chỉ đánh giá có mô hình hay không sang đánh giá bằng kết quả đo được về hiệu quả kinh tế, sử dụng tài nguyên, môi trường, phát thải và thu nhập của người dân.
Từ thực tiễn đó, ông Trần Huy Tuấn gợi mở bốn định hướng lớn mang tính nguyên tắc:
Thứ nhất, tổ chức lại không gian sản xuất và chuỗi giá trị theo điều kiện sinh thái của từng vùng. Cần xác định rõ sản phẩm, vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, công nghệ, hạ tầng chế biến và thị trường cho từng tiểu vùng; hình thành các chuỗi liên kết chặt chẽ từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến phân phối, xuất khẩu; đồng thời mở rộng các mô hình kết hợp nông nghiệp với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, làng nghề và bảo tồn cảnh quan.
Thứ hai, biến các giá trị xanh thành giá trị kinh tế. Chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích và đủ khả năng duy trì mô hình sau thời gian được hỗ trợ. Vì vậy, cần có các giải pháp về tiêu chuẩn, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu, tài chính xanh; thị trường cho sản phẩm hữu cơ, sản phẩm phát thải thấp, sản phẩm tái chế từ phụ phẩm; và các cơ chế các-bon phù hợp. Nói cách khác, tiêu chuẩn xanh phải được thị trường ghi nhận bằng giá trị cụ thể.
Thứ ba, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự đi vào từng ngành hàng, từng vùng sản xuất. Cùng với giống, công nghệ sinh học, tưới tiết kiệm, cơ giới hóa và chế biến sâu, cần đẩy mạnh ứng dụng cảm biến, thiết bị bay không người lái, trí tuệ nhân tạo, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc và cơ sở dữ liệu dùng chung. Tuy nhiên, công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, có người vận hành, có mô hình kinh doanh và khả năng nhân rộng; tránh đầu tư công nghệ nhưng thiếu dữ liệu, thiếu liên kết thị trường hoặc không phù hợp với khả năng tiếp cận của người sản xuất.
Thứ tư, đặt nông dân và cộng đồng nông thôn ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng thiết yếu và tạo môi trường thuận lợi; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và chuỗi giá trị; hợp tác xã là hạt nhân tổ chức sản xuất; các viện, trường, nhà khoa học cung cấp tri thức và công nghệ; còn nông dân là chủ thể trực tiếp thực hiện và phải là người được thụ hưởng thành quả. Phát triển nông nghiệp xanh phải gắn với bảo vệ rừng, đất ngập nước, đa dạng sinh học, cảnh quan văn hóa; xây dựng nông thôn hiện đại, đáng sống và nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Về phía Ninh Bình, ông Tuấn cho biết tỉnh xác định tiếp tục triển khai mạnh mẽ Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030; tổ chức sản xuất theo vùng sinh thái và chuỗi giá trị; ưu tiên nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, phát thải thấp và tuần hoàn; phát triển chế biến sâu, thị trường, thương hiệu; chuẩn hóa dữ liệu vùng sản xuất và truy xuất nguồn gốc; đồng thời gìn giữ các hệ sinh thái đặc thù, từ vùng núi đá vôi, rừng đặc dụng đến đất ngập nước và vùng ven biển.
Mỗi mô hình được nhân rộng cần hướng tới ba kết quả rõ ràng: hiệu quả kinh tế tốt hơn, tác động môi trường thấp hơn và sức chống chịu cao hơn. Sau cùng, người dân phải được hưởng lợi nhiều hơn từ giá trị do chính họ tạo ra.
Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, định hướng của các cơ quan Trung ương; sự đồng hành của các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp và các địa phương để tỉnh hoàn thiện cơ chế, lựa chọn công nghệ, xây dựng mô hình và mở rộng thị trường. Ninh Bình sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác thử nghiệm những cách làm mới có cơ sở khoa học, hiệu quả thực tiễn và khả năng nhân rộng.