news
Ông Seo Ho-yeol: "Thị trường các-bon cần dữ liệu tin cậy"

Ông Seo Ho-yeol: "Thị trường các-bon cần dữ liệu tin cậy"

Thứ năm, 1/10/2026, 10:40 (GMT+7)
logo Thị trường các-bon chỉ tạo được động lực giảm phát thải khi dữ liệu đáng tin cậy, tín chỉ có chất lượng và người tạo ra kết quả giảm phát thải được hưởng lợi. Nhân dịp ông Seo Ho-yeol, Trưởng ban Phát triển kinh doanh bền vững của ECOEYE Co., Ltd., có chuyến công tác tại Hà Nội, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông về kinh nghiệm của Hàn Quốc và những gợi mở cho Việt Nam. Mời bạn đọc theo dõi cuộc phỏng vấn ngay sau đây.
1790049244530_829884870067791350_829884870067791350_90171dd4743bb5b4b83b64d13f342175_1790421659.jpg
Ông Seo Ho-yeol chia sẻ về một số thành công của Hàn Quốc. Ảnh: Bùi Minh

Phóng viên: Hàn Quốc đã vận hành K-ETS từ năm 2015, nhưng thị trường từng đối mặt với tình trạng dư thừa hạn ngạch, thanh khoản thấp và giá các-bon suy giảm. Từ thực tiễn đó, theo ông, đâu là thành công lớn nhất và đâu là bài học “đắt giá” nhất mà Việt Nam cần nhìn nhận ngay từ giai đoạn đầu?

Ông Seo Ho-yeol: Thành công quan trọng nhất của Hàn Quốc không chỉ nằm ở khối lượng giao dịch, mà ở việc hình thành được một hệ thống quản lý phát thải bắt buộc trên phạm vi toàn quốc. Doanh nghiệp thuộc diện điều chỉnh phải đo đạc, báo cáo, thẩm tra lượng phát thải và nộp lại số hạn ngạch tương ứng. Nhờ đó, phát thải khí nhà kính dần trở thành một yếu tố phải tính đến trong kế hoạch sản xuất, đầu tư và quản trị rủi ro của doanh nghiệp.

K-ETS hiện bao phủ phần lớn lượng phát thải khí nhà kính của Hàn Quốc. Trong giai đoạn thứ tư, hơn 700 doanh nghiệp đáp ứng ngưỡng phát thải sẽ tham gia hệ thống. Ngưỡng áp dụng là doanh nghiệp có lượng phát thải bình quân từ 125.000 tấn CO₂ tương đương mỗi năm hoặc cơ sở có lượng phát thải từ 25.000 tấn CO₂ tương đương mỗi năm.

Tôi cho rằng đây là một thành tích quan trọng của Hàn Quốc: sau hơn 10 năm, doanh nghiệp đã quen với việc coi phát thải khí nhà kính là một yếu tố có chi phí. Trước đây, phát thải chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ môi trường; nhưng khi tham gia K-ETS, mỗi quyết định về nhiên liệu, công nghệ, hiệu suất năng lượng hoặc mở rộng sản xuất đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu mua hoặc khả năng bán hạn ngạch.

Tuy nhiên, bài học lớn nhất là một thị trường các-bon không thể hoạt động hiệu quả nếu tổng hạn ngạch không phản ánh đúng mục tiêu giảm phát thải và dữ liệu thực tế. Khi hạn ngạch được phân bổ cao hơn nhu cầu, doanh nghiệp không chịu đủ sức ép để đầu tư đổi mới công nghệ. Nguồn cung dư thừa còn khiến giá hạn ngạch giảm và tín hiệu giá các-bon suy yếu.

Cuối giai đoạn thứ ba, lượng hạn ngạch dư thừa tại Hàn Quốc được ước tính khoảng 147 triệu tấn, trong khi giá hạn ngạch vào tháng 11/2025 chỉ ở mức khoảng 10.000 won một tấn. Chính phủ Hàn Quốc đánh giá đây là một trong những vấn đề lớn cần xử lý khi thiết kế giai đoạn thứ tư.

Điểm đáng chú ý ở đây là Hàn Quốc không coi việc giá thấp đơn thuần là vấn đề của thị trường. Chính phủ nhìn lại chính cách thiết kế tổng lượng hạn ngạch, phương pháp phân bổ và quan hệ cung - cầu. Nói cách khác, khi tín hiệu giá không còn tạo đủ động lực giảm phát thải, giải pháp không nhất thiết là Nhà nước ấn định một mức giá mong muốn, mà trước hết phải xem xét liệu tổng lượng quyền phát thải được đưa ra thị trường có thực sự phù hợp với mục tiêu giảm phát thải hay không.

Một ví dụ khác rất đáng chú ý là chất lượng dữ liệu. Việc thiếu một phần dữ liệu tiêu thụ than của các công ty phát điện tư nhân từng làm số liệu phát thải quốc gia giai đoạn 2016-2022 bị đánh giá thấp, dẫn đến phân bổ thừa hạn ngạch cho 49 doanh nghiệp phát điện.

Sau khi số liệu được điều chỉnh, Chính phủ Hàn Quốc không bỏ qua vấn đề mà tiến hành điều chỉnh lại kế hoạch phân bổ. Trong quá trình hoàn thiện kế hoạch giai đoạn 4, Chính phủ đồng thời xem xét điều chỉnh khoảng 25,2 triệu tấn hạn ngạch phân bổ thừa của khu vực phát điện trong giai đoạn 3. Tuy nhiên, do sai lệch dữ liệu không xuất phát từ lỗi của các doanh nghiệp phát điện, Chính phủ đã tiến hành tham vấn, điều trần và tiếp nhận ý kiến của doanh nghiệp trong quá trình xử lý. Đây là một kinh nghiệm rất đáng lưu ý: tính toàn vẹn môi trường phải được bảo đảm, nhưng việc điều chỉnh chính sách cũng cần xem xét trách nhiệm của từng chủ thể và khả năng dự báo của doanh nghiệp.

Kinh nghiệm này cho thấy một sai lệch trong dữ liệu đầu vào có thể tác động đến toàn bộ hệ thống, từ tổng hạn ngạch đến giá thị trường và quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

Một vấn đề khác là quy định về chuyển tiếp hạn ngạch giữa các kỳ tuân thủ. Nếu hạn chế quá chặt, doanh nghiệp có thể bán hạn ngạch để tránh mất quyền chuyển tiếp, làm nguồn cung tăng và giá giảm. Nhưng nếu cho phép tích trữ không giới hạn, thị trường lại có thể xuất hiện tình trạng găm giữ, thiếu thanh khoản.

Do đó, Việt Nam cần bắt đầu từ một hệ thống kiểm kê và MRV - đo đạc, báo cáo, thẩm tra – đủ tin cậy. Sau đó mới xác lập tổng hạn ngạch và lộ trình giảm dần. Không nên coi số lượng tín chỉ được tạo ra hay khối lượng giao dịch là thước đo duy nhất. Thước đo quan trọng hơn là thị trường có tạo được sức ép giảm phát thải thực chất và huy động được dòng vốn cho công nghệ phát thải thấp hay không.

Bài học từ Hàn Quốc, theo tôi, không phải là Việt Nam phải sao chép K-ETS, mà là cần xây dựng ngay từ đầu một cơ chế có khả năng tự điều chỉnh khi xuất hiện sai lệch. Thị trường các-bon là một hệ thống chính sách dài hạn; việc điều chỉnh là khó tránh khỏi, nhưng điều chỉnh cần dựa trên dữ liệu, có lộ trình và được truyền thông đủ sớm để doanh nghiệp có thể chuẩn bị.

Hàn Quốc bắt đầu vận hành Hệ thống giao dịch phát thải K-ETS giai đoạn chính thức từ năm 2015. Sau hơn một thập kỷ, hệ thống này đã trở thành một trong những công cụ chính sách quan trọng để Hàn Quốc thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và từng bước hướng tới trung hòa các-bon.

Quá trình phát triển của K-ETS cũng cho thấy, một thị trường các-bon không được hoàn thiện ngay từ đầu. Hàn Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh chính sách, từ phân bổ hạn ngạch, cơ chế đấu giá, chuyển tiếp hạn ngạch, quản lý cung - cầu đến việc xử lý sai lệch dữ liệu phát thải. Chính những vấn đề phát sinh và cách Chính phủ, doanh nghiệp và thị trường Hàn Quốc phản ứng có thể cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn đáng chú ý đối với Việt Nam.

Bước sang giai đoạn 2026-2030, Hàn Quốc tiếp tục điều chỉnh tổng hạn ngạch, tăng tỷ lệ phân bổ có thu tiền và đưa vào cơ chế dự trữ ổn định thị trường. Những kết quả đạt được cũng như các vấn đề từng phát sinh trong quá trình vận hành K-ETS là nguồn tham khảo thiết thực đối với Việt Nam khi thị trường các-bon trong nước đang được hình thành.

Phóng viên: Trong giai đoạn 2026-2030, Hàn Quốc siết tổng hạn ngạch, tăng tỷ lệ đấu giá và đưa vào cơ chế dự trữ ổn định thị trường K-MSR. Theo ông, làm thế nào để vừa tạo sức ép buộc doanh nghiệp giảm phát thải, vừa tránh tình trạng giá các-bon quá thấp, quá cao hoặc bị chi phối bởi nguồn cung hạn ngạch?

Ông Seo Ho-yeol: Giai đoạn thứ tư đánh dấu bước chuyển quan trọng trong cách Hàn Quốc thiết kế K-ETS. Tổng hạn ngạch được xây dựng chặt chẽ hơn và được phân tách giữa khu vực phát điện và khu vực ngoài phát điện. Thay vì chỉ điều chỉnh theo tỷ lệ như trước, Hàn Quốc hướng tới một quỹ đạo giảm rõ hơn, gắn việc phân bổ với mục tiêu giảm phát thải của từng khu vực.

Một thay đổi đáng chú ý là tỷ lệ phân bổ có thu tiền của ngành điện được tăng theo lộ trình: từ 10% ở giai đoạn thứ ba lên 15% năm 2026, 20% năm 2027, 30% năm 2028, 40% năm 2029 và 50% vào năm 2030.

Điều đáng chú ý là Chính phủ Hàn Quốc đã không tăng ngay lên 50%. Trong quá trình tham vấn với doanh nghiệp và các bên liên quan, lộ trình ban đầu đã được điều chỉnh để giảm áp lực trong những năm đầu của giai đoạn 4. Đây là ví dụ cho thấy chính sách các-bon cần tạo sức ép đủ mạnh để thúc đẩy chuyển đổi, nhưng đồng thời phải tính đến khả năng thích ứng của ngành sản xuất.

Trong khi đó, những ngành có nguy cơ rò rỉ các-bon và chịu sức ép cạnh tranh quốc tế như thép, hóa dầu, xi măng, lọc dầu, bán dẫn, màn hình và pin tiếp tục được xem xét phân bổ miễn phí ở mức cao. Theo kế hoạch giai đoạn 4, các ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn, chiếm khoảng 95% khu vực công nghiệp, tiếp tục được duy trì phân bổ miễn phí nhằm bảo vệ năng lực cạnh tranh quốc tế.

Nhưng phân bổ miễn phí không có nghĩa là doanh nghiệp không cần giảm phát thải. Hàn Quốc ngày càng sử dụng phương pháp phân bổ theo định mức chuẩn - benchmark - để tạo lợi thế cho các cơ sở có hiệu suất phát thải tốt hơn. Ví dụ, trong ngành thép, chính sách giai đoạn mới đưa ra cơ chế khuyến khích đối với một số quy trình các-bon thấp; đối với bán dẫn và màn hình, phương pháp benchmark được điều chỉnh để phản ánh khác biệt về F-gas và N₂O giữa các quy trình sản xuất.

Điểm mới đáng chú ý khác là cơ chế dự trữ ổn định thị trường K-MSR. Một lượng hạn ngạch được giữ trong quỹ dự trữ. Khi nhu cầu tăng đột biến và thị trường thiếu nguồn cung, cơ quan quản lý có thể bổ sung hạn ngạch từ quỹ. Ngược lại, khi nhu cầu suy giảm, lượng hạn ngạch đưa ra đấu giá có thể được điều chỉnh. Mục tiêu là hạn chế những biến động bất thường của thị trường, chứ không phải ấn định một mức giá các-bon cố định.

Tôi cho rằng điểm này đặc biệt quan trọng với Việt Nam. Nhà nước cần quản lý “khung” của thị trường - tổng lượng cung, cơ chế dự trữ, quy tắc đấu giá và tiêu chí can thiệp – thay vì cố gắng quản lý từng biến động giá. Nếu doanh nghiệp tin rằng Nhà nước sẽ luôn cung cấp thêm hạn ngạch mỗi khi giá tăng, thì giá các-bon sẽ không còn tạo động lực đầu tư công nghệ.

Từ kinh nghiệm này, tôi cho rằng có bốn nguyên tắc Việt Nam cần quan tâm.

Thứ nhất, tổng hạn ngạch phải đủ chặt và giảm theo lộ trình có thể dự báo. Nếu doanh nghiệp cho rằng Nhà nước sẽ liên tục bổ sung hạn ngạch mỗi khi giá tăng, họ sẽ không có động lực đầu tư giảm phát thải.

Thứ hai, cơ chế đấu giá phải minh bạch, có lịch trình và khối lượng công bố rõ ràng. Đấu giá không chỉ tạo nguồn thu mà còn giúp hình thành tín hiệu giá khách quan hơn so với việc phân bổ miễn phí toàn bộ.

Hàn Quốc còn đưa ra một cách tiếp cận đáng tham khảo là sử dụng toàn bộ phần nguồn thu tăng thêm từ việc nâng tỷ lệ phân bổ có thu tiền để hỗ trợ quá trình chuyển đổi giảm các-bon của doanh nghiệp. Như vậy, ETS vừa tạo ra chi phí đối với phát thải, vừa có thể tạo nguồn lực hỗ trợ đầu tư công nghệ giảm phát thải.

Thứ ba, cơ chế dự trữ ổn định thị trường phải dựa trên những ngưỡng và nguyên tắc công khai. Quỹ dự trữ nên can thiệp khi có mất cân đối lớn về cung - cầu, không nên trở thành công cụ điều chỉnh giá theo những quyết định ngắn hạn.

Thứ tư, cần cho phép chuyển tiếp hạn ngạch ở mức hợp lý, đồng thời giám sát khả năng thao túng và tập trung sở hữu. Giá các-bon phải đủ cao để thúc đẩy đầu tư giảm phát thải nhưng không nên tăng, giảm đột ngột đến mức doanh nghiệp không thể xây dựng kế hoạch sản xuất. Nói cách khác, cơ quan quản lý không nên theo đuổi một mức giá cố định. Điều cần bảo vệ là khả năng phản ánh đúng quan hệ cung - cầu và chi phí giảm phát thải của tín hiệu giá.

tin-chi-anh_1790422035.png
Dữ liệu phát thải đáng tin cậy là nền tảng để phát triển thị trường các-bon và tạo giá trị cho người thực hiện giảm phát thải. Ảnh minh họa

Phóng viên: ECOEYE đã tham gia phát triển nhiều dự án theo các cơ chế CDM, K-ETS Offset và KVER. Từ thực tiễn đó, ông có thể chỉ rõ những nguyên nhân phổ biến khiến một dự án có kết quả giảm phát thải nhưng vẫn không được cấp tín chỉ, hoặc tín chỉ được cấp nhưng khó bán và có giá thấp?

Ông Seo Ho-yeol: Trước hết, cần phân biệt rõ giữa một hoạt động có lợi cho môi trường với một dự án đủ điều kiện tạo tín chỉ các-bon. Không phải mọi hoạt động giảm phát thải đều tự động tạo ra tín chỉ.

Một dự án muốn được cấp tín chỉ phải chứng minh được đường cơ sở phát thải, tính bổ sung, phương pháp đo đạc, thời gian giám sát và quyền sở hữu đối với kết quả giảm phát thải. Kết quả đó phải được một tổ chức độc lập thẩm định, thẩm tra và được đăng ký theo tiêu chuẩn hoặc cơ chế tín chỉ tương ứng.

Nguyên nhân đầu tiên khiến dự án không được cấp tín chỉ là không chứng minh được tính bổ sung. Nếu hoạt động đã bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật hoặc vốn đã có hiệu quả tài chính cao và chắc chắn được triển khai mà không cần nguồn thu các-bon, phần giảm phát thải đó có thể không đáp ứng yêu cầu của cơ chế tín chỉ.

Nguyên nhân thứ hai là lựa chọn đường cơ sở hoặc phương pháp luận không phù hợp. Chủ dự án phải xác định được lượng phát thải sẽ xảy ra nếu không có dự án. Nếu đường cơ sở được xây dựng thiếu căn cứ hoặc cao hơn thực tế, lượng tín chỉ đề xuất sẽ không được chấp nhận.

Nguyên nhân thứ ba là hệ thống MRV không đủ độ tin cậy. Thiết bị đo không được hiệu chuẩn, dữ liệu bị gián đoạn, hồ sơ vận hành không đầy đủ hoặc cách tính không nhất quán đều có thể làm giảm lượng tín chỉ được công nhận.

Nguyên nhân thứ tư là quy mô dự án quá nhỏ so với chi phí xây dựng hồ sơ, thẩm định và thẩm tra. Đây là vấn đề thường gặp đối với hộ nông dân, trang trại nhỏ và cộng đồng địa phương. Giải pháp là tập hợp nhiều đơn vị thành một chương trình hoặc dự án theo nhóm, sử dụng chung phương pháp, hệ thống dữ liệu và quy trình thẩm tra.

Ngay cả khi đã được cấp, tín chỉ vẫn có thể khó bán nếu phương pháp luận không được người mua chấp nhận; tín chỉ có thời gian phát hành quá cũ; dự án không chứng minh được các đồng lợi ích; hoặc tồn tại rủi ro về tính trùng lặp, quyền sở hữu và khả năng bị thu hồi.

Tài liệu chuyên môn của ECOEYE cho thấy, doanh nghiệp đã tham gia phát triển hơn 220 dự án bù trừ, bao gồm các dự án trong nước, CDM/PoA, dự án bù trừ K-ETS và KVER. Các loại hình được triển khai khá đa dạng, từ năng lượng mặt trời, chuyển đổi nhiên liệu, bơm nhiệt, thu hồi HFC, khí sinh học đến bếp sạch và cung cấp nước sạch.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nhiều dự án không thất bại ở công nghệ mà thất bại ở khâu chuẩn bị dữ liệu và cấu trúc quyền các-bon. Một thiết bị có thể thực sự tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát thải, nhưng nếu không xác định đường cơ sở trước khi đầu tư, không lưu giữ số liệu vận hành hoặc không xác định rõ ai sở hữu kết quả giảm phát thải thì sau này rất khó “quay lại” để tạo ra tín chỉ có chất lượng.

Kinh nghiệm rút ra là dự án cần được thiết kế theo yêu cầu các-bon ngay từ đầu, chứ không phải triển khai xong mới tìm cách tính tín chỉ. Trước khi đầu tư, chủ dự án phải trả lời được năm câu hỏi: Ai sở hữu kết quả giảm phát thải? Áp dụng phương pháp luận nào? Dữ liệu sẽ được thu thập ra sao? Chi phí tạo ra một tín chỉ là bao nhiêu? Tín chỉ dự kiến bán cho ai và được sử dụng cho mục đích gì? Nếu chưa trả lời được những câu hỏi này, dự án rất dễ rơi vào tình trạng có giảm phát thải nhưng không tạo được sản phẩm được thị trường chấp nhận.

Phóng viên: Khi tín chỉ được chuyển giao giữa hai quốc gia, những vấn đề như tính bổ sung, điều chỉnh tương ứng và tránh tính trùng trở thành yêu cầu bắt buộc. Theo ông, một dự án của Việt Nam phải đáp ứng những tiêu chí nào để tín chỉ có thể được thị trường Hàn Quốc và các nhà đầu tư quốc tế chấp nhận?

Ông Seo Ho-yeol: Điều đầu tiên cần khẳng định, tín chỉ được cấp theo một tiêu chuẩn quốc tế không đồng nghĩa với việc tự động được sử dụng trong K-ETS. K-ETS hiện chưa liên kết trực tiếp với một hệ thống giao dịch phát thải khác. Việc tín chỉ quốc tế có được chấp nhận hay không còn phụ thuộc vào quy định của Hàn Quốc trong từng giai đoạn và mục đích sử dụng cụ thể.

Đối với chuyển giao quốc tế theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, dự án phải tuân thủ đồng thời quy định của quốc gia nơi thực hiện dự án, quốc gia tiếp nhận và cơ chế quốc tế có liên quan. Trong đó, sự cho phép của quốc gia chủ nhà là điều kiện rất quan trọng.

Một kết quả giảm phát thải không thể vừa được Việt Nam sử dụng để hoàn thành NDC, vừa được quốc gia hoặc doanh nghiệp khác sử dụng cho mục đích tuân thủ nếu không có cơ chế hạch toán phù hợp. Vì vậy, điều chỉnh tương ứng là công cụ cần thiết để tránh tính hai lần cùng một kết quả giảm phát thải.

Tôi cho rằng, dự án của Việt Nam cần đáp ứng ít nhất sáu nhóm yêu cầu.

Một là, có cơ sở pháp lý và chủ thể sở hữu rõ ràng. Dự án phải xác định ai là người sở hữu, ai có quyền chuyển nhượng và các bên tham gia được hưởng lợi như thế nào.

Hai là, sử dụng phương pháp luận được chấp nhận, có đường cơ sở thận trọng và chứng minh được tính bổ sung.

Ba là, có hệ thống MRV đủ khả năng truy xuất dữ liệu từ khi phát sinh đến khi cấp và chuyển nhượng tín chỉ.

Bốn là, được đăng ký, cấp mã và theo dõi trên hệ thống đăng ký có khả năng ngăn ngừa việc phát hành, chuyển nhượng hoặc hủy tín chỉ hai lần.

Năm là, có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền nếu kết quả giảm phát thải được chuyển giao quốc tế theo mục đích đòi hỏi điều chỉnh tương ứng.

Sáu là, đáp ứng các yêu cầu về môi trường, xã hội và cơ chế giải quyết khiếu nại, nhất là với những dự án có sự tham gia của cộng đồng, người dân hoặc chủ rừng.

Việt Nam đã ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Do đó, mọi dự án hướng tới chuyển giao quốc tế cần được xem xét trong khuôn khổ pháp luật này, thay vì ký bán toàn bộ tín chỉ từ quá sớm khi chưa xác định rõ nghĩa vụ đối với NDC quốc gia.

Đây cũng là điểm mà kinh nghiệm Hàn Quốc có thể gợi mở cho Việt Nam: thị trường chỉ phát triển bền vững khi doanh nghiệp hiểu rõ từ đầu “sản phẩm các-bon” của mình được tạo ra cho thị trường nào, sử dụng cho nghĩa vụ gì và phải tuân theo cơ chế hạch toán nào. Việc tạo ra tín chỉ trước rồi mới tìm thị trường sử dụng có thể làm tăng đáng kể rủi ro thương mại.

Đối với nhà đầu tư quốc tế, chất lượng tín chỉ ngày càng quan trọng hơn số lượng. Một tín chỉ có hồ sơ minh bạch, dữ liệu đáng tin cậy, không tính trùng và tạo thêm lợi ích cho cộng đồng thường có khả năng tiếp cận người mua tốt hơn. Ngược lại, nếu quyền sở hữu chưa rõ hoặc dữ liệu không thể kiểm chứng, giá thấp vẫn chưa chắc có người mua.

con-rat-nhieu-viec-phai-lam-de-van-hanh-thi-truong-tin-chi-carbon-20240906211211_1790422403.jpg
Việc xây dựng phát triển thị trường các-bon là giải pháp quan trọng đóng góp vào tiến trình giảm phát thải khí nhà kính quốc gia. Đây còn là cơ hội huy động nguồn vốn của xã hội tham gia vào hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Mỗi một tấn CO2 đạt tiêu chuẩn của thị trường được coi là một tín chỉ carbon và được giao dịch trên thị trường.
                                                                                                     Ảnh tư liệu

Phóng viên: Việt Nam có tiềm năng tạo tín chỉ từ canh tác lúa, chất thải chăn nuôi, khí sinh học, phụ phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thu hồi môi chất lạnh. Nếu phải lựa chọn những lĩnh vực có khả năng thương mại hóa sớm nhất, ông sẽ lựa chọn lĩnh vực nào; Việt Nam cần làm gì để người dân, chủ rừng và doanh nghiệp thực sự được hưởng lợi thưa ông?

Ông Seo Ho-yeol: Không nên lựa chọn lĩnh vực chỉ dựa trên tổng tiềm năng giảm phát thải. Khả năng thương mại hóa còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của phương pháp luận, khả năng đo đạc, quy mô dự án, chi phí MRV, quyền sở hữu và nhu cầu của người mua.

Trong ngắn hạn, tôi cho rằng Việt Nam có thể ưu tiên ba nhóm.

Nhóm thứ nhất, thu hồi và xử lý các loại khí có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao, trong đó có môi chất lạnh. Ưu điểm của nhóm này là nguồn phát thải tương đối tập trung, có thể xác định lượng khí được thu gom, tái chế hoặc tiêu hủy. Tuy nhiên, Việt Nam cần xây dựng hệ thống thu hồi, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm lượng khí khai báo là có thật.

Nhóm thứ hai là xử lý chất thải chăn nuôi, khí sinh học và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp. Đây là lĩnh vực vừa có thể giảm phát thải, vừa tạo năng lượng, giảm ô nhiễm và cải thiện điều kiện sản xuất. Khó khăn nằm ở quy mô nhỏ và phân tán, vì vậy cần phát triển dự án theo chương trình hoặc theo chuỗi liên kết.

Nhóm thứ ba, giảm phát thải trong canh tác lúa. Việt Nam có tiềm năng lớn, nhưng để tạo tín chỉ có chất lượng cần chuẩn hóa quy trình canh tác, kiểm soát việc thực hiện trên đồng ruộng và xây dựng hệ thống dữ liệu đủ tin cậy. Nếu chi phí đo đạc quá cao hoặc nông dân không duy trì đúng quy trình, hiệu quả thương mại sẽ bị giảm.

Điểm chung của ba nhóm này là Việt Nam không nên phát triển các dự án đơn lẻ quá nhỏ. Kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm của ECOEYE cho thấy việc gom nhiều cơ sở, trang trại hoặc hộ sản xuất vào cùng một chương trình có thể giúp chia sẻ chi phí MRV, thẩm định, thẩm tra và quản lý dữ liệu. Đây là điều đặc biệt quan trọng với nông nghiệp Việt Nam.

Đối với tín chỉ các-bon rừng, tiềm năng là rất lớn nhưng phải xử lý thận trọng các vấn đề về quyền sở hữu, tính lâu dài, nguy cơ mất rừng, dịch chuyển phát thải và chia sẻ lợi ích.

Để người dân và chủ rừng thực sự hưởng lợi, cơ chế chia sẻ phải được xác lập ngay từ khi thiết kế dự án. Hợp đồng cần công khai chi phí phát triển dự án, chi phí thẩm định – thẩm tra, tỷ lệ tín chỉ thuộc về từng bên, giá bán, phí trung gian và thời điểm thanh toán. Người dân không nên chỉ được trả một khoản hỗ trợ cố định trong khi toàn bộ quyền định đoạt tín chỉ thuộc về đơn vị phát triển dự án.

Tôi cho rằng, đây cũng là một vấn đề quyết định chất lượng của thị trường các-bon trong dài hạn. Nếu người trực tiếp thay đổi phương thức sản xuất, quản lý rừng hoặc vận hành công nghệ giảm phát thải không nhận được phần lợi ích tương xứng, rất khó duy trì hoạt động giảm phát thải trong nhiều năm. Một tín chỉ chất lượng cao vì vậy không chỉ cần đúng về phương pháp tính toán, mà còn cần một cơ chế quản trị và chia sẻ lợi ích đủ minh bạch.

Tôi đề xuất Việt Nam triển khai theo sáu bước: lựa chọn lĩnh vực có phương pháp luận phù hợp; xây dựng dữ liệu đường cơ sở; tổ chức các hộ sản xuất thành nhóm hoặc chuỗi liên kết; thiết lập hệ thống MRV số hóa; ký thỏa thuận chia sẻ lợi ích minh bạch; sau đó mới lựa chọn thị trường và người mua.

Việt Nam đã có quy định về đăng ký, cấp mã, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch, tín chỉ trên sàn giao dịch các-bon trong nước. Trong giai đoạn thí điểm, việc đăng ký tập trung trên Hệ thống đăng ký quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để bảo đảm mỗi đơn vị giảm phát thải chỉ được ghi nhận và chuyển nhượng một lần.

Nhìn lại hơn một thập kỷ của Hàn Quốc, điều Việt Nam có thể học không chỉ là các quy định kỹ thuật của K-ETS. Quan trọng hơn là cách một hệ thống được điều chỉnh dần dựa trên kinh nghiệm thực tế. Hàn Quốc đã từng gặp dư thừa hạn ngạch, giá thấp, hạn chế thanh khoản và sai lệch dữ liệu; nhưng mỗi vấn đề đều dẫn đến một vòng điều chỉnh chính sách tiếp theo. Chính phủ tăng mức độ chặt chẽ của tổng hạn ngạch, mở rộng đấu giá, thiết kế cơ chế dự trữ thị trường, hoàn thiện benchmark và điều chỉnh số liệu khi phát hiện sai lệch. Đồng thời, quá trình này được thực hiện cùng với tham vấn doanh nghiệp và xem xét tác động đối với năng lực cạnh tranh.

Đối với Việt Nam, việc xây dựng thị trường các-bon vì vậy nên được nhìn nhận là một quá trình học hỏi và hoàn thiện dài hạn. Điều quan trọng là thiết lập ngay từ đầu một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, nguyên tắc phân bổ minh bạch và cơ chế điều chỉnh có thể dự báo.

Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh là Việt Nam không nên bắt đầu bằng câu hỏi “có thể bán được bao nhiêu tín chỉ”, mà cần bắt đầu bằng câu hỏi “đã giảm được bao nhiêu phát thải thực chất, dữ liệu có kiểm chứng được không và người trực tiếp tạo ra kết quả giảm phát thải được hưởng lợi như thế nào”.

Khi ba vấn đề đó được giải quyết, tín chỉ các-bon mới thực sự trở thành nguồn lực cho chuyển đổi xanh, thay vì chỉ là một loại hàng hóa được kỳ vọng về giá.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

 

Hồng Minh (thực hiện)