Phân loại sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro: Rõ trách nhiệm, giảm chồng chéo trong kiểm tra chất lượng

Phân loại sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro: Rõ trách nhiệm, giảm chồng chéo trong kiểm tra chất lượng

Thứ năm, 30/7/2026, 07:04 (GMT+7)
logo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 27/2026/TT-BNNMT ngày 30/6/2026. Thông tư quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ. Thông tư thiết lập phương thức quản lý chất lượng tương ứng với từng mức độ rủi ro, làm rõ yêu cầu công bố tiêu chuẩn, chứng nhận hợp quy và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu.

Thông tư áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục trên lãnh thổ Việt Nam; các tổ chức đánh giá sự phù hợp; cơ quan quản lý nhà nước và những tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Điểm đáng chú ý của chính sách mới là sản phẩm, hàng hóa không còn được quản lý theo một cách thức đồng nhất mà được phân loại thành hai nhóm: rủi ro trung bình và rủi ro cao. Mỗi nhóm có yêu cầu kiểm soát khác nhau, phù hợp với khả năng gây ảnh hưởng đến con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường và hoạt động sản xuất.

doanh-nghiep-xuat-khau-truoc-bai-kiem-tra-moi-chat-luong-hang-hoa-6-7-202620260706145832_1785031863.png
ảnh minh hoạ

Hai mức độ rủi ro, hai phương thức quản lý

Theo Thông tư, sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình được quy định tại Phụ lục I. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh nhóm sản phẩm này phải tự công bố tiêu chuẩn áp dụng; đồng thời tự đánh giá hoặc sử dụng kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được công nhận để chứng minh sản phẩm phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

Như vậy, đối với nhóm rủi ro trung bình, doanh nghiệp được chủ động hơn trong việc đánh giá sự phù hợp. Tuy nhiên, quyền chủ động luôn đi kèm trách nhiệm bảo đảm tính chính xác của hồ sơ, kết quả thử nghiệm và nội dung công bố. Sản phẩm chỉ được lưu thông khi đáp ứng đầy đủ quy chuẩn kỹ thuật và các quy định chuyên ngành có liên quan.

Danh mục sản phẩm, hàng hóa rủi ro trung bình gồm tám nhóm chính.

Nhóm thứ nhất là giống cây trồng, gồm giống lúa và giống ngô. Các sản phẩm này phải phù hợp với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng. Việc đánh giá sự phù hợp áp dụng phương thức 7; hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện công bố hợp quy trước khi lưu thông trên thị trường.

Nhóm thứ hai là phân bón, bao gồm phân bón có nguồn gốc thực vật hoặc động vật; phân khoáng, phân hóa học chứa nitơ, phosphat hoặc kali; phân bón chứa hai hoặc ba nguyên tố dinh dưỡng chính; cùng một số loại phân bón khác thuộc các mã HS được xác định trong Phụ lục I. Sản phẩm phân bón được quản lý theo QCVN 106:2025/BNNMT, áp dụng phương thức đánh giá sự phù hợp số 5 hoặc số 7 tùy trường hợp.

Nhóm thứ ba là thức ăn chăn nuôi, gồm thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn tinh hỗn hợp cho bê và bò thịt, nguyên liệu đơn và thức ăn bổ sung. Đối với thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước, phương thức 5 được áp dụng. Trường hợp cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi còn hiệu lực thì không phải đánh giá lại quá trình sản xuất trong nội dung của phương thức 5. Đối với thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, áp dụng phương thức 7.

Nhóm thứ tư là thuốc thú y, gồm vắc xin thú y và các loại thuốc thú y thuộc danh mục, mã HS và quy chuẩn kỹ thuật được quy định cụ thể. Việc quản lý nhằm bảo đảm chất lượng thuốc, hiệu lực phòng và điều trị bệnh, hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, an toàn thực phẩm và môi trường.

Nhóm thứ năm là thức ăn thủy sản, bao gồm nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản, thức ăn hỗn hợp, thức ăn bổ sung và các sản phẩm có liên quan. Đáng chú ý, đối với nguyên liệu được sử dụng chung để sản xuất thức ăn chăn nuôi và thức ăn thủy sản, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng đồng thời các quy định hiện hành của cả hai lĩnh vực. Các cơ quan kiểm tra có trách nhiệm cung cấp, trao đổi kết quả kiểm tra chất lượng để phối hợp quản lý, tránh yêu cầu doanh nghiệp thực hiện trùng lặp không cần thiết.

Nhóm thứ sáu là sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, như zeolite, dolomite, vôi sống, vôi tôi, canxi cacbonat, chế phẩm khử trùng, chế phẩm sinh học và một số hỗn hợp khoáng, vitamin dùng để ổn định môi trường nuôi. Sản phẩm sản xuất trong nước áp dụng phương thức 5; sản phẩm nhập khẩu áp dụng phương thức 7 và phải công bố hợp quy trước khi lưu thông.

Nhóm thứ bảy là keo dán gỗ, gồm các loại keo amino, keo phenol và keo novolac epoxy. Các sản phẩm này phải đáp ứng QCVN 03-01:2022/BNNPTNT, được đánh giá theo phương thức 5 hoặc phương thức 7. Đối với hàng nhập khẩu, việc công bố hợp quy phải hoàn thành trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường.

Nhóm thứ tám là máy, thiết bị nông nghiệp, trong đó có máy phun thuốc bảo vệ thực vật đeo vai và một số máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Việc đánh giá sự phù hợp áp dụng phương thức 5 đối với máy sản xuất trong nước và phương thức 7 đối với máy nhập khẩu.

Trong khi đó, sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao được quy định tại Phụ lục II. Đây là nhóm chịu cơ chế quản lý chặt chẽ hơn: được xếp vào danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan; phải tự công bố tiêu chuẩn áp dụng; đồng thời phải được tổ chức chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền chỉ định chứng nhận phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

Theo Phụ lục II, nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao là thuốc bảo vệ thực vật. Danh mục bao gồm thuốc trừ côn trùng, thuốc trừ nấm, thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng, thuốc khử trùng và các sản phẩm tương tự thuộc các mã HS được liệt kê cụ thể.

Thuốc bảo vệ thực vật phải công bố hợp quy trên cơ sở kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được chỉ định. Việc đánh giá sự phù hợp áp dụng phương thức 5 và phương thức 7 theo Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN. Đối với hàng hóa nhập khẩu, tổ chức, cá nhân phải thực hiện kiểm tra nhà nước về chất lượng theo quy định trước khi hàng hóa được thông quan.

Quy định này phản ánh đúng tính chất đặc thù của thuốc bảo vệ thực vật. Nếu sản phẩm không bảo đảm chất lượng, sử dụng sai thành phần hoặc không đúng hàm lượng có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng, sức khỏe người sử dụng, chất lượng nông sản, nguồn nước, đất đai và hệ sinh thái. Vì vậy, yêu cầu chứng nhận bởi tổ chức được chỉ định và kiểm tra trước thông quan là biện pháp kiểm soát cần thiết đối với nhóm hàng hóa có rủi ro cao.

Xác định mã hồ sơ theo pháp luật hải quan

Thông tư quy định việc quản lý sản phẩm, hàng hóa phải tuân thủ pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Trường hợp hàng hóa thuộc danh mục nhưng chưa được liệt kê mã HS, hoặc có sự khác biệt giữa mã HS trong danh mục với mã hồ sơ được xác định theo pháp luật hải quan, việc xác định mã HS được thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan.

Cơ quan kiểm tra nhà nước và tổ chức đánh giá sự phù hợp không chỉ dựa vào mã HS mà còn phải căn cứ bản chất, thành phần và công dụng thực tế của hàng hóa để áp dụng biện pháp quản lý chất lượng phù hợp. Quy định này có ý nghĩa quan trọng bởi cùng một mã HS có thể bao gồm nhiều loại hàng hóa khác nhau, trong khi tên thương mại hoặc cách khai báo chưa phản ánh đầy đủ công dụng của sản phẩm.

Cách tiếp cận trên giúp hạn chế tình trạng chỉ căn cứ máy móc vào mã HS để quyết định hàng hóa có thuộc diện kiểm tra hay không. Đồng thời, quy định cũng tạo cơ sở xử lý các trường hợp phát sinh sản phẩm mới, công nghệ mới hoặc hàng hóa có cấu tạo, chức năng đặc thù.

Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Kể từ thời điểm này, Thông tư số 16/2021/TT-BNNPTNT về danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hết hiệu lực.

Thông tư đồng thời bãi bỏ các quy định về kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 01/2024/TT-BNNPTNT; bãi bỏ một số nội dung liên quan đến kiểm tra chất lượng muối công nghiệp nhập khẩu tại Thông tư số 39/2018/TT-BNNPTNT. Việc thay thế và bãi bỏ các quy định cũ góp phần thống nhất đầu mối pháp lý, hạn chế chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành.

Để bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp, Thông tư có quy định chuyển tiếp rõ ràng. Giấy chứng nhận hợp quy và thông báo tiếp nhận bản công bố hợp quy đã được cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực vẫn được sử dụng đến hết thời hạn ghi trên giấy chứng nhận hoặc thông báo.

Hồ sơ đăng ký chứng nhận hợp quy đã được tiếp nhận trước ngày 1/7/2026 nhưng chưa giải quyết xong tiếp tục được xử lý theo quy định pháp luật tại thời điểm tiếp nhận. Các tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được chỉ định và còn thời hạn hoạt động được tiếp tục đánh giá đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi Thông tư đến khi quyết định chỉ định hết hiệu lực.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao các cục quản lý chuyên ngành hướng dẫn thực hiện; rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo yêu cầu quản lý và mức độ rủi ro. Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn tổ chức, cá nhân trên địa bàn và thực hiện kiểm tra chất lượng theo quy định.

Khi xuất hiện sản phẩm, công nghệ mới hoặc cảnh báo rủi ro trong nước và quốc tế, danh mục có thể tiếp tục được rà soát, cập nhật. Đây là cơ chế cần thiết để hoạt động quản lý chất lượng theo kịp sự phát triển của sản xuất, thương mại và công nghệ.

Việc phân loại sản phẩm theo mức độ rủi ro giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực kiểm soát chặt những mặt hàng có khả năng gây hậu quả lớn, đồng thời tăng quyền chủ động và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhóm rủi ro trung bình. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh cần đối chiếu chính xác tên hàng, mã HS, quy chuẩn kỹ thuật và phương thức đánh giá sự phù hợp trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.

Hồng Minh