Phó Cục trưởng Nguyễn Văn Diện: "Hộ chiếu xanh" cho gỗ Việt vươn tầm thế giới

Phó Cục trưởng Nguyễn Văn Diện: "Hộ chiếu xanh" cho gỗ Việt vươn tầm thế giới

Thứ năm, 30/7/2026, 07:10 (GMT+7)
logo Trong hơn 30 năm đổi mới, ngành gỗ Việt Nam đã viết nên một câu chuyện phát triển đầy tự hào, vươn lên trở thành một trong 5 quốc gia xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất thế giới, đứng thứ hai châu Á và đứng đầu Đông Nam Á, với sản phẩm có mặt trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tuy nhiên, bước sang kỷ nguyên thương mại xanh, cuộc cạnh tranh không còn dừng lại ở giá thành hay mẫu mã, mà là “hộ chiếu xanh” và năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về chiến lược bứt phá của ngành.

PV: Thưa ông, 6 tháng đầu năm 2026, ngành xuất khẩu gỗ và lâm sản đối mặt với nhiều biến động thị trường và các rào cản kỹ thuật. Ông đánh giá như thế nào về kết quả đạt được cũng như khả năng hoàn thành mục tiêu xuất khẩu của năm nay?

Ông Nguyễn Văn Diện: Trong 6 tháng đầu năm 2026, chúng ta đều biết áp lực từ thuế đối ứng của Mỹ cùng các rào cản kỹ thuật khắt khe đã gây ra không ít ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu. Tuy nhiên, nhờ sự chủ động của doanh nghiệp và sự tháo gỡ kịp thời từ Chính phủ, các Bộ, ngành, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản 6 tháng đầu năm vẫn đạt 9,22 tỷ USD.

ong-dien_1785120086.jpg
Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Dự báo từ nay đến cuối năm, nếu không có biến động quá bất ngờ, mục tiêu xuất khẩu chung của năm 2026 hoàn toàn có thể đạt được. Nhìn thẳng vào thực tế, các thị trường truyền thống (đặc biệt là Hoa Kỳ) chắc chắn sẽ gặp khó khăn và có sự suy giảm về kim ngạch. Dù vậy, một số thị trường tiềm năng khác đang có dấu hiệu khả quan và tăng trưởng tích cực, đủ sức bù đắp cho phần thiếu hụt từ thị trường Mỹ.

PV: Hiện nay, tình hình đơn hàng của các doanh nghiệp đang diễn ra như thế nào, và vướng mắc lớn nhất về phía thị trường nhập khẩu là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Diện: Qua trao đổi với các Hiệp hội ngành hàng, đơn hàng của các doanh nghiệp hiện gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân cốt lõi là do các chính sách và quy định kỹ thuật từ các nước nhập khẩu thay đổi liên tục. Tâm lý chung của các nhà nhập khẩu quốc tế hiện nay là mua hàng cầm chừng, không thể đưa ra các kế hoạch hay hợp đồng dài hạn. Điều này khiến doanh nghiệp chế biến trong nước rất thụ động trong việc lên kế hoạch sản xuất và tích trữ nguyên liệu.

PV: Trước những áp lực về chi phí và đơn hàng, ngành Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan quản lý đã có những chính sách cụ thể nào để chia sẻ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tiêu biểu như vấn đề thuế giá trị gia tăng (VAT)?

Ông Nguyễn Văn Diện: Để đồng hành cùng doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động phối hợp với các Hiệp hội và các Bộ, ngành liên quan để tháo gỡ từng vướng mắc.

Đặc biệt, về vấn đề thuế VAT, vừa qua chúng tôi đã làm việc trực tiếp với Bộ Tài chính và giải quyết dứt điểm vướng mắc hoàn thuế cho doanh nghiệp. Trước đây, quy định yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh chuỗi nguồn gốc thuế VAT đến tận cùng, một điều vô cùng phức tạp và gần như doanh nghiệp không thể tự làm được. Nút thắt này đã được tháo gỡ bằng giải pháp đưa mặt hàng gỗ, đặc biệt là gỗ sơ chế, vào diện không phải tính thuế giá trị gia tăng. Đây là chính sách rất thiết thực, giúp giải phóng nguồn vốn và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình.

PV: Các quy định như Chống mất rừng của EU (EUDR) hay các tiêu chuẩn khắt khe từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đang đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn gốc gỗ. Ngành Lâm nghiệp đón nhận các "rào cản xanh" này như thế nào?

Ông Nguyễn Văn Diện: Trực diện mà nói, thách thức lớn nhất hiện nay của ngành gỗ không phải là thiếu thị trường, mà là năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường. Doanh nghiệp nào thích ứng nhanh sẽ phát triển, doanh nghiệp nào chậm chuyển đổi chắc chắn sẽ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, việc sản xuất không gây mất rừng hay suy thoái rừng vốn dĩ cũng là mục tiêu chiến lược mà Việt Nam đang theo đuổi. Cho nên, việc EU hay các nước đưa ra quy định EUDR chính là cơ hội để chúng ta đẩy nhanh tiến trình thực hiện mục tiêu của mình. Nếu làm tốt, đây sẽ là "tấm vé thông hành" nâng cao uy tín quốc tế của gỗ Việt.

PV: Để đáp ứng mặt bằng tiêu chuẩn mới này, tư duy phát triển ngành gỗ Việt Nam cần có sự thay đổi như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Diện: Đã đến lúc toàn ngành phải thay đổi mạnh mẽ về tư duy:

Về nguyên liệu: Chuyển từ tư duy "đủ nguyên liệu để sản xuất" sang tư duy "nguyên liệu phải hợp pháp, minh bạch, có trách nhiệm và bền vững".

Về mục tiêu: Chuyển từ "xuất khẩu nhiều (quy mô)" sang "xuất khẩu giá trị".

Về sản phẩm: Chuyển từ "bán gỗ thô/gỗ sơ chế" sang xuất khẩu cả "hệ sinh thái nội thất và thương hiệu Việt Nam".

Tầm nhìn mới đòi hỏi nguồn nguyên liệu gỗ tương lai phải hội tụ đủ 5 yếu tố hội nhập: Hợp pháp; khả năng truy xuất đầy đủ đến từng lô rừng; không gây mất rừng; có chứng chỉ quản lý rừng bền vững; có phát thải carbon thấp.

PV: Dù giai đoạn 2021-2025, rừng trồng trong nước đã đáp ứng khoảng 78% nhu cầu nguyên liệu chế biến với gần 4,9 triệu ha, nhưng ông vẫn nhấn mạnh cần nhìn thẳng vào các điểm nghẽn. Đó là những hạn chế gì?

Ông Nguyễn Văn Diện: Chúng ta có quy mô lớn nhưng chất lượng và giá trị chưa tương xứng. Các điểm nghẽn cốt lõi bao gồm: Rừng trồng vẫn chủ yếu là gỗ nhỏ (chu kỳ ngắn). Tỷ lệ rừng có chứng chỉ quản lý bền vững (FSC/PEFC) còn thấp. Dữ liệu vùng nguyên liệu chưa được số hóa đầy đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Liên kết giữa chủ rừng/người dân và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu chưa cao, công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn ở mức trung bình.

Chúng ta vẫn xuất khẩu quá nhiều nguyên liệu giá trị thấp (như dăm gỗ), trong khi thế giới đang cần các sản phẩm nội thất, vật liệu xanh có hàm lượng công nghệ cao.

PV: Gần đây có phản ánh về việc doanh nghiệp nước ngoài (như Trung Quốc) thu mua dăm gỗ và hạ tiêu chuẩn tuổi rừng (từ 5 năm xuống 2 năm) ở các tỉnh miền Trung, khiến người dân bán gỗ non. Cục đánh giá bài toán này như thế nào dưới góc độ chính sách và thực tiễn?

Ông Nguyễn Văn Diện: Trước hết, phải nhìn nhận đây là câu chuyện của cơ chế thị trường và quy luật lợi nhuận. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ dăm gỗ rất lớn, khi người dân thấy có lợi ngắn hạn thì họ sẽ bán.

Thực tế, việc trồng rừng gỗ lớn có hai rào cản rất lớn đối với người dân: Nhu cầu tài chính cấp thiết: Người trồng rừng đa phần còn nghèo, nhu cầu về tiền mặt trang trải cuộc sống rất cao, khó chờ đợi 7–10 năm mới thu hoạch. Rủi ro vè thiên tai, miền Trung là "tâm bão" của cả nước, rừng để càng lâu thì nguy cơ bị gãy đổ, mất trắng do thiên tai càng cao, việc bảo tồn vốn là cực kỳ khó khăn. Vì vậy, việc tận dụng đất kém hiệu quả hoặc đất nông nghiệp sang trồng keo thu hoạch dăm gỗ cũng là một cách để người dân xoay xở sinh kế và tận dụng quỹ đất.

Về phía liên kết, doanh nghiệp chế biến của Việt Nam đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế nên khả năng bao quát, hỗ trợ tài chính hay bao tiêu dài hạn cho người dân còn rất hạn chế. Chính sự yếu kém về năng lực của doanh nghiệp khiến mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trở nên lỏng lẻo.

Để giải bài toán này, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đang dự thảo trình các cấp thẩm quyền chính sách khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, hỗ trợ kinh phí làm chứng chỉ rừng bền vững, đồng thời hoàn thiện chính sách tín dụng, bảo hiểm rừng và thị trường tín chỉ carbon để giúp người dân có thêm nguồn thu ngắn hạn, giảm bớt rủi ro khi giữ rừng gỗ lớn.

PV: Để đạt các mục tiêu tăng trưởng và nâng tầm ngành gỗ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào trong thời gian tới, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Diện: Thực hiện Quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, Cục sẽ tập trung chỉ đạo 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:

Thứ nhất là phát triển mạnh vùng nguyên liệu gỗ lớn, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng.

Thứ hai là mở rộng nhanh diện tích rừng có chứng chỉ bền vững, coi đây là tấm vé thông hành bắt buộc.

Thứ ba là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, số hóa đến từng lô rừng, đáp ứng chuẩn EUDR và các thị trường phát triển.

Thứ tư là thúc đẩy liên kết chuỗi giữa chủ rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến để hình thành vùng nguyên liệu ổn định.

Thứ năm là hoàn thiện cơ chế chính sách về tín dụng, đầu tư, bảo hiểm rừng, dịch vụ môi trường rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Thứ sáu là kiểm soát chặt chẽ gỗ nhập khẩu, ưu tiên sử dụng nguồn nguyên liệu hợp pháp trong nước để từng bước nâng cao tính tự chủ.

PV: Giai đoạn 6 tháng cuối năm 2026 có ý nghĩa quyết định, ông muốn gửi thông điệp gì tới cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương?

Ông Nguyễn Văn Diện: Lịch sử phát triển của ngành gỗ Việt Nam đã chứng minh: Mỗi lần thị trường thay đổi hay xuất hiện rào cản mới, doanh nghiệp Việt Nam đều biết cách vươn lên và trưởng thành hơn. 

Tôi đề nghị các địa phương đẩy nhanh phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn; các doanh nghiệp tăng cường đầu tư công nghệ, thiết kế và chế biến sâu; các hiệp hội phát huy vai trò kết nối, cập nhật quy định quốc tế; các cơ quan quản lý tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đồng hành tháo gỡ khó khăn.

Chúng ta phải biến sức ép kỹ thuật thành động lực nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị. Nếu biết tận dụng xu hướng tiêu dùng xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm chế biến gỗ xanh, trung tâm cung ứng nguyên liệu hợp pháp và trung tâm sản xuất nội thất chất lượng cao của khu vực và thế giới.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Văn Thanh