news
Phụ nữ làng nghề Hà Nội và bước chuyển sản xuất xanh

Phụ nữ làng nghề Hà Nội và bước chuyển sản xuất xanh

Chủ nhật, 27/9/2026, 10:43 (GMT+7)
logo Từ thay lò nung ở Bát Tràng đến cải thiện quy trình sản xuất tại Vạn Phúc, chuyển đổi xanh ở làng nghề bắt đầu bằng những quyết định cụ thể của từng cơ sở. Tại tọa đàm ngày 23/9, các đại biểu nhấn mạnh: để phụ nữ thúc đẩy quá trình này, cần trao cho họ kiến thức, nguồn lực và tiếng nói trong quản trị sản xuất.
1790161352602_8167316303507391274_8167316303507391274_56465990c6a8a9a42e77baacb967bb2b_1790220802.jpg
Quang cảnh Tọa đàm

Ngày 23/9, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Hà Nội phối hợp với Học viện Phụ nữ Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thực trạng môi trường làng nghề Hà Nội và vai trò của phụ nữ trong thúc đẩy chuyển đổi xanh”. Bà Phạm Thị Thanh Hương, Ủy viên Ban Chấp hành Hội LHPN Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN thành phố Hà Nội, và ThS. Nguyễn Hoàng Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phụ nữ, đồng chủ trì.

Phát biểu tại tọa đàm, bà Phạm Thị Thanh Hương cho biết, Hà Nội xác định làng nghề là một trong những trụ cột phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô. Nhưng cùng với giá trị kinh tế và văn hóa, hoạt động sản xuất cũng đặt thêm sức ép lên môi trường. Thành phố đã triển khai nhiều chính sách, mô hình và giải pháp cải thiện chất lượng môi trường; tình trạng ô nhiễm ở một số làng nghề vẫn phức tạp. Theo thông tin bà Hương nêu tại tọa đàm, phụ nữ chiếm khoảng 60–70% lao động tại các làng nghề truyền thống; nhiều người trực tiếp quản lý hộ kinh doanh, cơ sở và doanh nghiệp.

Từ đó, câu hỏi đặt ra không dừng ở việc vận động người dân giữ gìn vệ sinh. Cần nhìn vào những quyết định tạo ra tác động môi trường: chọn nhiên liệu nào, đầu tư thiết bị ra sao, sử dụng nguyên liệu và bao bì thế nào, xử lý chất thải ở đâu và ai được tham gia quyết định. Đây cũng là cơ sở để tọa đàm trao đổi về vai trò thực chất của phụ nữ trong chuyển đổi xanh.

1790161352624_8167316303507391274_8167316303507391274_58aa4cb48aab3deda4a39033ef3d3be3_1790221435.jpg
Ủy viên BCH Hội LHPN Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN thành phố Hà Nội Pham Thị Thanh Hương phát biểu tại tọa đàm

Bát Tràng cho thấy vai trò của quyết định công nghệ

Từ kinh nghiệm sản xuất gốm, bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh, nhắc lại thời kỳ Bát Tràng chịu ô nhiễm kéo dài. Theo bà, năm 1997, Công ty Quang Vinh chuyển từ lò nung than sang lò nung sử dụng gas; đến nay các hộ làm nghề ở Bát Tràng đã sử dụng lò gas. Sự thay đổi ấy cho thấy một quyết định đầu tư ở cấp cơ sở có thể làm thay đổi cách tổ chức sản xuất của cả làng nghề.

Tuy vậy, kinh nghiệm chuyển đổi lò nung không thể áp dụng nguyên dạng cho mọi nghề. Mỗi công đoạn có loại nguyên liệu, mức tiêu thụ năng lượng và dòng chất thải khác nhau. Việc lựa chọn công nghệ cần dựa trên điều kiện sản xuất cụ thể, khả năng tài chính của hộ nghề và hiệu quả môi trường có thể kiểm chứng. Cách nhìn này giúp chuyển đổi xanh đi từ khẩu hiệu sang phương án đầu tư và vận hành có thể thực hiện.

Bà Vinh nhìn nhận rào cản trước hết nằm ở cách cân nhắc chi phí: cơ sở sản xuất thường thấy ngay khoản tiền phải bỏ ra, trong khi lợi ích về sức khỏe, điều kiện lao động và giá trị sản phẩm cần thời gian mới thể hiện rõ. Bà đề xuất tổ chức các cuộc đối thoại ngay tại làng nghề để hướng dẫn trực tiếp, cùng hộ sản xuất tìm giải pháp phù hợp. Hội LHPN các cấp có thể phối hợp thí điểm chương trình “Phụ nữ làng nghề sản xuất sạch hơn”, đào tạo về công nghệ, quản trị môi trường và xây dựng mô hình làng nghề xanh có phụ nữ tham gia, dẫn dắt.

Vạn Phúc đặt bài toán vốn, kỹ năng và không gian sản xuất

Ở làng lụa Vạn Phúc, hoạt động nghề diễn ra trong khu dân cư đông đúc. Theo bà Trần Thị Ngọc Lan, Phó Chủ tịch Hội làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, điều này làm cho yêu cầu về môi trường, nguyên liệu, năng lượng và tổ chức không gian sản xuất ngày càng cao. Việc điều chỉnh một công đoạn có thể liên quan đồng thời đến mặt bằng, thiết bị, chi phí vận hành và chất lượng sản phẩm; vì thế cơ sở nhỏ khó tự xoay xở nếu thiếu vốn và tư vấn kỹ thuật.

Bà Lan cho rằng khi phụ nữ được tiếp cận kiến thức, vốn, công nghệ và thị trường, đồng thời tham gia bình đẳng vào việc ra quyết định, họ có thể góp phần nâng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm. Bà đề nghị có thêm hình thức tín dụng phù hợp cho các cơ sở, nhất là cơ sở do phụ nữ làm chủ, để đổi mới thiết bị và cải thiện điều kiện sản xuất; đồng thời hỗ trợ các làng nghề tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải, sử dụng nguyên liệu và bao bì thân thiện hơn với môi trường.

Những đề xuất này cho thấy đào tạo và tín dụng cần đi cùng nhau. Có vốn mà thiếu năng lực đánh giá công nghệ dễ dẫn đến đầu tư không phù hợp; có kiến thức nhưng không tiếp cận được nguồn lực thì khó đổi mới dây chuyền. Ở quy mô làng nghề, việc phối hợp giữa chính quyền, tổ chức Hội, hiệp hội nghề và cơ sở sản xuất cũng cần gắn với đặc điểm từng nghề để những mô hình thử nghiệm có thể được duy trì, đánh giá và nhân rộng.

Thanh Oai đưa chuyển đổi xanh về từng hộ và hợp tác xã

Tại xã Thanh Oai, nghề nón lá làng Chuông có lịch sử hơn 300 năm, bên cạnh sản xuất thủ công mỹ nghệ, trồng cây ăn quả, rau an toàn và dịch vụ. Theo thông tin trình bày tại tọa đàm, xã có 25 sản phẩm đạt chuẩn OCOP; khoảng 40% hộ gia đình do phụ nữ làm chủ. Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội LHPN xã Thanh Oai, cho biết phụ nữ vừa trực tiếp sản xuất, vừa ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng và giữ gìn môi trường trong gia đình, cộng đồng.

Hội LHPN xã đã triển khai các mô hình “Nhà sạch, vườn đẹp, tường rào nở hoa”, “Tuyến đường nở hoa kiểu mẫu”, phân loại rác tại hộ gia đình, hạn chế túi nilon và giữ sạch đồng ruộng. Hội cũng tổ chức tuyên truyền, tập huấn và hướng dẫn trực tiếp cho hơn 500 hội viên về phân loại, xử lý rác sinh hoạt; hỗ trợ Hợp tác xã Mây tre nón lá Thu Hương từng bước phát triển sản xuất theo hướng xanh, nâng giá trị sản phẩm truyền thống.

Theo bà Hồng, phụ nữ tham gia sản xuất nhiều nhưng chưa luôn có vai trò tương xứng khi quyết định những vấn đề liên quan đến nghề và môi trường. Công việc gia đình hạn chế thời gian học công nghệ, quản trị; nguồn lực đổi mới còn ít, trong khi khả năng tiếp cận tiêu chuẩn và chứng nhận chưa đồng đều. Bởi vậy, mở thêm lớp tập huấn chỉ giải quyết được một phần vấn đề: thời gian, cách thức hỗ trợ và cơ hội tham gia bàn bạc cũng phải phù hợp với điều kiện thực tế của phụ nữ tại cơ sở.

Từ mô hình thí điểm đến thay đổi có thể đo được

Đề án tổng thể phát triển làng nghề Hà Nội giai đoạn 2025–2030, tầm nhìn đến năm 2050 được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 282/QĐ-UBND ngày 15/1/2025, đặt mục tiêu duy trì 100% làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận đáp ứng điều kiện bảo vệ môi trường theo quy định; đồng thời chú trọng đào tạo lao động, hạ tầng và phát triển sản phẩm. Đây là khung chính sách để các đề xuất từ tọa đàm được cụ thể hóa theo từng địa bàn và nhóm nghề.

 

anh-phu-nu_1790221350.png
Các đại biểu phát biểu tại tọa đàm

Từ các ý kiến tại tọa đàm, một mô hình thí điểm sẽ có giá trị hơn nếu xác định rõ cơ sở tham gia, vấn đề môi trường cần xử lý, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cần thiết, cũng như cách theo dõi kết quả trước và sau can thiệp. Các chỉ dấu có thể bắt đầu từ mức sử dụng nhiên liệu, nguyên liệu, lượng chất thải, điều kiện lao động và số phụ nữ thực sự tham gia quyết định sản xuất. Những chỉ dấu này là gợi ý để thiết kế, đánh giá mô hình, không phải số liệu kết quả của tọa đàm.

Điểm gặp nhau trong ba câu chuyện Bát Tràng, Vạn Phúc và Thanh Oai là phụ nữ không chỉ tham gia thực hiện các hoạt động xanh mà còn có thể nhận diện vấn đề, chọn giải pháp và tổ chức thay đổi trong cơ sở sản xuất. Khi kiến thức, nguồn lực và quyền tham gia quyết định cùng được củng cố, chuyển đổi xanh mới có điều kiện đi vào từng công đoạn của làng nghề, gắn việc bảo vệ môi trường với sinh kế và giá trị sản phẩm.

Minh Lan