Theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng đầu năm đạt 56,3 tỷ USD. Bước vào quý IV, ngành tập trung thúc đẩy tiêu thụ, tháo gỡ rào cản thị trường, bảo đảm nguồn nước và chủ động phòng, chống thiên tai để hoàn thành mục tiêu năm, đồng thời chuẩn bị cho mùa vụ tiếp theo.
Lãnh đạo nêu gương, cán bộ tận tâm, toàn ngành đồng lòng - quyết tâm hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026 |
Bám sát ngành hàng, chủ động phát triển thị trường
Theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản xuất nông, lâm, thủy sản trong 9 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 39,4 tỷ USD; xuất siêu đạt 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%.
Trong các thị trường xuất khẩu, Trung Quốc chiếm thị phần 24,4%, kim ngạch tăng 18,9%; Hoa Kỳ chiếm 19,8%, tăng 1,2%; Nhật Bản chiếm 7,4%, tăng 4,9%. Kết quả này tạo nền tảng cho chặng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu theo dõi sát diễn biến từng thị trường để có giải pháp phù hợp với từng ngành hàng.
Tại phần tổng hợp nhiệm vụ những tháng cuối năm, Bộ xác định mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả năm đạt 74 tỷ USD. Theo đó, ba tháng cuối năm cần đạt 17,7 tỷ USD, bình quân mỗi tháng khoảng 5,9 tỷ USD. Tháng 10 mở đầu quý IV, vì vậy tiến độ sản xuất, chế biến và tiêu thụ cần được bám sát để duy trì đà xuất khẩu.
Bộ yêu cầu chỉ đạo sản xuất theo kịch bản tăng trưởng đến từng lĩnh vực, sản phẩm; cập nhật thường xuyên sản lượng, giá trị, thị trường và các yếu tố tác động để kịp thời điều chỉnh. Những nhóm sản phẩm còn dư địa gia tăng sản xuất được chú trọng gồm rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi lợn và gia cầm; đồng thời duy trì đà tăng sản lượng tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Cùng với đó, các đơn vị cần theo dõi diễn biến thời tiết, sâu bệnh, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; chủ động xây dựng phương án ứng phó, bảo đảm điều kiện sản xuất. Việc theo dõi giá nguyên liệu đầu vào và giá thành sản phẩm cũng được đặt ra nhằm hỗ trợ ổn định sản xuất trong những tháng cuối năm.
Theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiệm vụ phát triển thị trường tập trung vào tháo gỡ rào cản kỹ thuật, đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc; xử lý vướng mắc đối với các ngành hàng chủ lực.
Đây là những công việc gắn trực tiếp với khả năng tiếp cận và duy trì thị trường. Nông sản cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất ngay từ vùng nguyên liệu, qua khâu thu hoạch, chế biến đến xuất khẩu. Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp có ý nghĩa đối với tiến độ tiêu thụ và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tiếp tục theo dõi diễn biến quốc tế, phối hợp với các hiệp hội và cơ quan thương vụ đánh giá tác động để hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm củng cố thị trường truyền thống, khai thác thị trường tiềm năng; định hướng phát triển vùng nguyên liệu bền vững gắn với tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm.
Công tác xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cho nông sản đặc sản chủ lực tiếp tục được thúc đẩy. Đồng thời, Bộ chú trọng giải pháp tiêu thụ nội địa đối với các mặt hàng có tính thời vụ cao, theo dõi biến động giá nông sản, thủy sản và vật tư nông nghiệp thiết yếu.
Như vậy, nhiệm vụ thị trường trong quý IV được triển khai trên cả hai hướng: thúc đẩy xuất khẩu và tổ chức tiêu thụ trong nước. Sự chủ động về thông tin nguồn cung, nhu cầu và giá cả sẽ hỗ trợ điều hành sản xuất phù hợp hơn, nhất là trong thời điểm thu hoạch tập trung.
Bảo đảm nguồn nước, ứng phó sớm với nguy cơ hạn mặn
Theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Công tác thủy lợi đồng thời phải đáp ứng yêu cầu an toàn trong mùa mưa, lũ và chuẩn bị ứng phó hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
Trong vụ Đông Xuân 2025-2026, cả nước gieo trồng 2.692.217 ha lúa, trong đó 2.581.627 ha thuộc vùng tưới từ công trình thủy lợi, đạt 96%. Kết quả này cho thấy vai trò của hệ thống công trình trong bảo đảm điều kiện sản xuất.
Bộ cho biết, vụ Hè Thu, Mùa 2026, nguồn nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, khu vực Trung Bộ xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn cục bộ trên khoảng 7.100 ha, gồm 4.650 ha tại Bắc Trung Bộ và 2.450 ha tại Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên.
Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cũng phải lùi, giãn thời vụ đối với khoảng 3.821 ha lúa do nắng nóng, nguồn nước ở các hồ chứa nhỏ xuống thấp và diễn biến xâm nhập mặn trên sông Vĩnh Điện. Những trường hợp này đặt ra yêu cầu tính toán thời vụ và phương án cấp nước sát với điều kiện từng địa bàn.
Đối với vụ Đông Xuân 2026-2027, theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ, tổng diện tích cây trồng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hạn hán, xâm nhập mặn tại thời điểm cao điểm khoảng 424.800-502.300 ha. Đây là diện tích được dự báo có nguy cơ, phục vụ xây dựng phương án ứng phó. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích có nguy cơ được xác định khoảng 250.800 ha, gồm 85.800 ha lúa Đông Xuân, 120.000 ha lúa - tôm và 45.000 ha cây ăn trái.
Trước nguy cơ này, Bộ yêu cầu tiếp tục cập nhật thông tin khí tượng, thủy văn; nâng cao chất lượng dự báo nguồn nước, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; cung cấp thông tin chi tiết cho địa phương và đơn vị quản lý, vận hành công trình thủy lợi. Thông tin dự báo là cơ sở để tổ chức sản xuất phù hợp với nguồn nước và triển khai giải pháp ứng phó, hạn chế thiệt hại.
Trong công tác phòng, chống thiên tai, Bộ nhấn mạnh yêu cầu: “Chủ động phòng, chống thiên tai, bảo vệ trực tiếp kết quả sản xuất”. Kết quả vận hành hồ chứa trong tháng 9 được Bộ thông tin cho thấy hiệu quả của điều tiết công trình. Trong đợt mưa lớn từ ngày 10-17/9/2026, các hồ Cửa Đạt, Ngàn Trươi và Tả Trạch giữ lại khoảng 371 triệu m³ trong tổng lượng nước đến khoảng 580 triệu m³, tương đương 64%, góp phần cắt, giảm lũ cho hạ du.
Theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đã ban hành 7 văn bản, 17 công điện chỉ đạo bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du hồ chứa, chủ động ứng phó mưa lớn, ngập lụt, úng.
Các nhiệm vụ tiếp tục được triển khai gồm trực ban 24/24 giờ khi có bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn; cập nhật thông tin vận hành hồ chứa; theo dõi lượng mưa, mực nước hạ du và điều chỉnh kịch bản phù hợp với diễn biến thực tế. Công tác điều hành trong tháng 10 vì vậy cần gắn bảo đảm an toàn công trình với chuẩn bị nguồn nước cho sản xuất, sinh hoạt trong mùa khô tới.

Thực hiện đồng bộ nhiệm vụ tăng trưởng và phát triển bền vững
Theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mục tiêu tăng trưởng GDP khu vực nông, lâm, thủy sản cả năm được giữ ở mức 4%. Theo kịch bản, quý IV cần tăng khoảng 4,20%.
Bộ đồng thời đặt yêu cầu phấn đấu hoàn thành 51 nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng đã giao. Các ưu tiên gồm phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao giá trị gia tăng, mở cửa thị trường, hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quản lý hiệu quả tài nguyên và chuyển đổi xanh.
Đối với các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, Bộ yêu cầu giải quyết những điểm nghẽn về đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước và môi trường ảnh hưởng đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó là đẩy nhanh nhiệm vụ về cơ sở dữ liệu đất đai, phục hồi nguồn nước bị suy thoái, xử lý ô nhiễm không khí, lưu vực sông, làng nghề và khu vực nông thôn.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, theo thông tin báo cáo tháng 10 của Bộ, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tiếp tục duy trì ở mức 42,03%. Đến ngày 18/9/2026, thu dịch vụ môi trường rừng đạt 2.731,92 tỷ đồng, bằng 78,1% kế hoạch thu năm.
Diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững trong 9 tháng đầu năm đạt 232.194 ha, nâng tổng diện tích rừng có chứng chỉ của cả nước lên khoảng 959.544,27 ha. Công tác bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và thúc đẩy chế biến, thương mại lâm sản tiếp tục được triển khai trong những tháng cuối năm.
Chuyển đổi số được thực hiện trong các hoạt động quản lý chuyên ngành. Bộ cho biết, thông tin giám sát chất lượng nước được cập nhật trên nền tảng WebGIS tại 16 hệ thống công trình thủy lợi; ứng dụng “Thủy lợi Việt Nam” đã hoạt động trên iOS và Android.
Nhiệm vụ tiếp theo là chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật dữ liệu, hoàn thiện mã định danh và kết nối, chia sẻ giữa các hệ thống; duy trì vận hành ổn định, bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành.
Về đầu tư công, Bộ đặt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao, yêu cầu theo dõi sát tiến độ từng dự án, chủ động tháo gỡ vướng mắc ngay từ cơ sở và điều chỉnh vốn phù hợp theo quy định. Đây là nhiệm vụ cần được tập trung thực hiện trong chặng cuối năm.
Những nhiệm vụ được Bộ xác định cho tháng 10 và quý IV có sự gắn kết chặt chẽ: thúc đẩy xuất khẩu đi cùng kiểm soát chất lượng; duy trì sản xuất đi cùng bảo đảm nguồn nước, phòng, chống thiên tai; tăng trưởng đi cùng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thực hiện đồng bộ, sát từng ngành hàng và địa phương sẽ góp phần bảo vệ kết quả đã đạt được, hoàn thành mục tiêu năm 2026 và chuẩn bị điều kiện cho mùa vụ tiếp theo.