Bài 3: Làng nghề - điểm nhấn trong phát triển du lịch
Cửa Lò trước vận hội mới của kinh tế biển

Bài 3: Làng nghề - điểm nhấn trong phát triển du lịch

Thứ tư, 26/8/2026, 08:31 (GMT+7)
logo Trong tầm nhìn phát triển du lịch biển, Cửa Lò không chỉ khai thác lợi thế về biển mà xác định làng nghề, sản phẩm truyền thống và đời sống cư dân ven biển là những yếu tố quan trọng, làm dày thêm trải nghiệm cho du khách.

Đến Cửa Lò có thêm “cái để nhớ”

Buổi sáng ở Cửa Lò, khi mặt trời còn chưa nhô lên hẳn, biển đã bắt đầu một ngày mới. Trên bãi cát, những hàng dừa vươn mình trong nắng sớm. Xa hơn, những con thuyền lần lượt trở về sau một đêm lênh đênh trên biển.

Với nhiều du khách, đó có thể chỉ là một khoảnh khắc bình minh. Nhưng đi sâu hơn vào những làng biển ven bờ, Cửa Lò mở ra một không gian khác - nơi nhịp sống của ngư dân, những nghề truyền thống và sản vật biển tạo nên một trải nghiệm gần gũi, chân thực và riêng có của vùng biển này.

bai-3-cua-lo_1787562269_1787643423.png
Một góc chợ cá Nghi Thủy

Tại Nghi Thủy, nghề biển hiện diện gần như trong mọi nhịp sống của người dân. Vùng đất này hình thành và phát triển cùng quá trình khai phá, bám biển và mưu sinh của nhiều thế hệ ngư dân. Trải qua những đổi thay của một đô thị du lịch, Nghi Thủy vẫn giữ được dáng dấp của một làng chài truyền thống với những con ngõ nhỏ hướng ra biển, tiếng máy tàu rộn lên từ sáng sớm và mùi hải sản phảng phất len lỏi khắp làng.

Nếu trước kia ngư dân chủ yếu đánh bắt gần bờ bằng những phương tiện nhỏ, với các nghề lưới rê, câu, cất te,… thì những năm gần đây, nhiều chủ tàu đã đầu tư phương tiện có công suất lớn để vươn khơi dài ngày. Những chuyến đi biển xa mang về nguồn hải sản phong phú hơn, đồng thời tạo động lực cho các hoạt động thu mua, bảo quản và chế biến phát triển.

Một trong những trải nghiệm khiến nhiều du khách thích thú là ghé chợ Bến cá Nghi Thủy từ lúc trời còn chưa sáng rõ. Khoảng từ 4 đến 7 giờ sáng, cả khu vực cảng cá trở nên nhộn nhịp khi những chuyến tàu nối nhau cập bến sau một đêm vươn khơi. Hải sản vừa được chuyển từ khoang tàu lên bờ nhanh chóng và được phân loại, cân, mua bán ngay tại chợ. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng mặc cả, tiếng xe kéo hàng, người người tấp nập trên bến, dưới thuyền.

bai-3-cua-lo-2_1787562347.jpg
Rộn ràng cảnh lao động dọn khay sau khi cá đã bán hết cho thương lái

Chợ Bến cá Nghi Thủy hiện là nơi tiêu thụ hải sản quan trọng của khu vực. Tiểu thương từ nhiều nơi tìm đến lấy hàng, còn với du khách, đây lại là một “địa chỉ trải nghiệm” để quan sát trọn vẹn nhịp sống của làng biển. Không ít người sau khi xem tàu cập bến đã chọn mua cá thu, mực, cá mú, tôm, cua, ghẹ... vừa được đưa từ khoang tàu lên.

Từ chợ cá, du khách có thể tiếp tục hành trình tham quan Làng nghề chế biến hải sản khối 7 - Nghi Thủy. Tại đây, du khách có thể quan sát các công đoạn sơ chế, tẩm ướp, phơi, sấy, nướng hải sản; trực tiếp tìm hiểu cách làm chả mực, nướng cá thu hay lựa chọn những sản phẩm được chế biến ngay từ nguồn nguyên liệu vừa cập bến.

bai-3-cua-lo-3_1787562443.jpg
Hải sản tươi sống du khách dễ dàng lựa chọn

Theo bà Hồ Thị Huynh, một hộ kinh doanh hải sản lâu năm tại làng nghề, điều quan trọng nhất đối với các cơ sở sản xuất vẫn là chất lượng sản phẩm. Nguồn nguyên liệu chủ yếu được lấy hoặc thu mua trực tiếp từ những chuyến tàu sau 1 đêm đánh bắt trở về, vì vậy hải sản luôn tươi, ngon.

Cùng với đó là yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm trong từng công đoạn chế biến. “Khách đã tin và hài lòng thì họ sẽ quay lại, hoặc giới thiệu cho người khác. Làm nghề biển cũng như làm du lịch, cuối cùng vẫn phải giữ được chữ tín”, bà Huynh chia sẻ.

Đó cũng là hướng đi cần thiết khi Cửa Lò xác định làng nghề phải trở thành một mắt xích trong chuỗi sản phẩm du lịch. Hơn nữa, việc chế biến sâu cũng giúp nâng giá trị hải sản. Thay vì chỉ bán nguyên liệu tươi, nhiều hộ dân đã tạo ra các sản phẩm thuận tiện cho khách du lịch mang về, với mẫu mã và cách bảo quản phù hợp hơn.

bai-3-cua-lo-4_1787562656.jpg
Chả mực - món ăn được nhiều du khách lựa chọn

Bên cạnh làng nghề, Nghi Thủy còn có những nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng cư dân ven biển. Trong các dịp lễ hội, những hoạt động như thi đan lưới, lắc mủng không chỉ tạo không khí sôi nổi mà còn gợi lại những kỹ năng lao động đã gắn bó với ngư dân từ bao đời. Nếu được tổ chức và khai thác hợp lý, đây có thể trở thành những trải nghiệm để du khách tham gia, thay vì chỉ đứng ngoài quan sát.

bai-3-cua-lo-1_1787562537.jpg
Làng nghề chế biến hải sản khối 7 - Nghi Thủy

Ông Nguyễn Minh Quốc, chuyên viên Phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị phường Cửa Lò cho biết, hiện phường Cửa Lò có 3 làng nghề, mỗi làng nghề có một thế mạnh và mang trong mình một nét riêng biệt nhưng tựu chung đều có đóng góp lớn trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.

Cụ thể: Làng nghề chế biến và bảo quản hải sản khối 6 - Nghi Tân hiện có 20 hộ sản xuất kinh doanh, tổng công suất lưu giữ 10.000 tấn; tổng số lao động 450 người, thu nhập bình quân đầu người 90 triệu đồng/năm.

Làng Nghề chế biến hải sản khối 7 - Nghi Thủy có 40 hộ sản xuất kinh doanh; sản phẩm chủ yếu: Nước mắm, mắm tôm, mắm tép, hải sản khô, hải sản chế biến như cá cơm,... tổng số lao động 120 người, thu nhập bình quân 90 triệu đồng/năm.

Làng nghề Nước mắm Hải Giang 1 gồm 80 hộ sản xuất nước mắm với 350 lao động; Nguyên liệu đầu vào hàng năm là 600 tấn cá; Sản lượng 1,2 triệu lít/ năm. Thu nhập bình quân của lao động: 110.000.000 đồng/năm.

Sản phẩm OCOP nâng tầm làng nghề

Cho đến nay, trên địa bàn phường Cửa Lò có 35 sản phẩm được công nhận OCOP 3 sao và 3 sản phẩm đạt OCOP 4 sao cấp tỉnh. Trong đó, nước mắm vẫn là nhóm sản phẩm chủ lực. Các sản phẩm OCOP của phường chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu thủy sản khai thác tại địa phương và khu vực lân cận. Các cơ sở sản xuất từng bước chú trọng kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào, bảo đảm an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Điều dễ nhận thấy, từ những làng nghề truyền thống, sản phẩm của người dân đã được nâng tầm thành hàng hóa có thương hiệu. Từ cá biển, qua bàn tay và kinh nghiệm của người làm nghề đã trở thành sản phẩm OCOP mang dấu ấn của một “đô thị du lịch biển”.

bai-3-cua-lo-8_1787563021.png
Bà Lê Thị Kim chủ cơ sở sản xuất nước mắm Võ Kim, người đã có hàng chục năm gắn bó với nghề

Làng nghề nước mắm Hải Giang 1 là một trong những làng nghề nước mắm có truyền thống lâu đời ở Cửa Lò. Tuy nhiên, phải đến năm 2010, làng nghề mới được UBND tỉnh Nghệ An công nhận. Năm 2013, sản phẩm của làng nghề tiếp tục được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và năm 2021 sản phẩm nước mắm của làng nghề được công nhận đạt chuẩn OCOP.

Chiều muộn một ngày giữa tháng 8, tại cơ sở sản xuất nước mắm Võ Kim, bà Lê Thị Kim, người đã có hàng chục năm gắn bó với nghề vẫn tất bật với những công việc quen thuộc. Từ lựa chọn nguyên liệu, trộn cá với muối, chăm sóc bể ướp đến lọc và phơi nắng- mỗi công đoạn đều cần sự kiên trì và kinh nghiệm.

Vốn là cán bộ Công ty cổ phần Thủy sản Nghệ An, sau khi nghỉ chế độ 176, năm 1994 bà Lê Thị Kim bắt đầu mở cơ sở chế biến nước mắm mang thương hiệu Võ Kim. Từ một cơ sở nhỏ, qua nhiều năm gây dựng, sản phẩm của gia đình bà từng bước có chỗ đứng trên thị trường.

Theo bà Kim, nguyên liệu chính để làm nước mắm là cá cơm, ngoài ra còn có thêm một lượng nhỏ cá trích, cá nục. Cá được thu mua chủ yếu tại Cửa Lò và các vùng biển lân cận trong tỉnh. Yêu cầu đầu tiên là cá phải tươi, được lựa chọn kỹ trước khi đưa vào muối. Tỷ lệ cá và muối cũng được tính toán phù hợp.

bai-3-cua-lo-9_1787563130.png
Cơ sở nước mắm Võ Kim tham gia mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học nhằm nâng cao chất lượng và đạt chuẩn OCOP

Làm nước mắm truyền thống không thể nóng vội. Từ khi muối cá đến khi cho ra thành phẩm có khi mất tới 3 năm. Cá được ủ trong bể, nén chặt rồi “chăm sóc” trong thời gian dài. Nước mắm nhĩ được kéo xuống, sau đó bơm lên để tiếp tục lắng, lọc. Chu trình ấy lặp đi lặp lại cho đến khi nước mắm đạt độ trong, màu sắc và hương vị như mong muốn.

“Khâu trộn cá muối, dằn đá là mệt nhất. Mùa hè này thì người và cá phơi cùng nhau”, bà Kim nói vui. Đằng sau câu nói vui ấy là cả sự nhọc nhằn của nghề làm mắm.

Nước mắm truyền thống sau khi chín có màu cánh gián, trong, sóng sánh và có mùi thơm đặc trưng. Ở Hải Giang 1, ngoài cách sản xuất, phơi nắng theo phương pháp truyền thống, một số cơ sở còn làm nước mắm hạ thổ. Nước mắm sau khi lọc được cho vào chai thủy tinh, chôn dưới vùng đất cát sạch khoảng 1 năm. Theo những người làm nghề, cách này giúp nước mắm có mùi thơm dịu, vị đậm và màu sắc đẹp hơn.

bai-3-cua-lo-6_1787563382.jpg
Nước mắm được đóng chai tại cơ sở

Bà Kim cho hay, mỗi năm gia đình bà thu mua khoảng 40 tấn cá, sản xuất được từ 30.000-40.000 lít nước mắm. Sản phẩm chủ yếu được bán cho khách quen, các đại lý và du khách đến Cửa Lò. Có những người từng mua nước mắm khi đi du lịch, sau khi sử dụng thấy hợp vị lại gọi điện đặt mua thêm.

Cửa Lò ngày càng thu hút đông du khách, kéo theo nhu cầu mua đặc sản địa phương về sử dụng và làm quà. Đây là cơ hội để những sản phẩm truyền thống như nước mắm Hải Giang 1 bước ra khỏi phạm vi làng nghề.

Từ chỗ chủ yếu bán cho khách quen và các hộ kinh doanh trong vùng, sản phẩm nước mắm của làng nghề hiện đã được đưa vào các siêu thị, cửa hàng ở nhiều tỉnh, thành và được người tiêu dùng biết đến. Nước mắm nguyên chất loại đặc biệt có giá khoảng 110.000 – 130.000 đồng/lít; loại hạ thổ có giá khoảng 150.000 – 170.000 đồng/lít, với độ đạm trên 30.

bai-3-cua-lo-7_1787563435.jpg
Sản phẩm đạt chứng nhận sản phẩm OCOP 3 sao

Để làng nghề có điều kiện phát triển, những năm qua, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ các hộ sản xuất như tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn, tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đào tạo nghề và tổ chức các hoạt động kết nối, quảng bá sản phẩm. Từ đó, các cơ sở từng bước quan tâm hơn đến chất lượng, bao bì, mẫu mã và quy trình sản xuất.

Bùi Ánh