Bài 3: Trồng quế dược liệu hướng tới phát triển lâm nghiệp bền vững
Khơi dậy nội lực từ chủ trương lớn

Bài 3: Trồng quế dược liệu hướng tới phát triển lâm nghiệp bền vững

Chủ nhật, 9/8/2026, 06:17 (GMT+7)
logo Từ một loài cây bản địa, trồng quế dược liệu đang được kỳ vọng trở thành sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao ở Nghệ An, mở hướng phát triển lâm nghiệp đa giá trị, nâng cao thu nhập và góp phần giảm nghèo lâu dài.

Thực hiện Quyết định số 512/QĐ-SNNMT.KHTC ngày 22/6/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An về phê duyệt và giao nhiệm vụ thực hiện mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc Dự án 2 "Đa dạng hóa sinh kế, phát triển mô hình giảm nghèo" thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt được giao triển khai mô hình trồng quế dược liệu trên địa bàn các xã vùng đệm.

Theo kế hoạch, dự án sẽ hỗ trợ người dân trồng tập trung 10 héc-ta quế trên đất rừng sản xuất, đồng thời trồng phân tán khoảng 90.000 cây quế, tương đương khoảng 90 héc-ta quy đổi. Dự kiến có khoảng 310 hộ nghèo, cận nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng lợi từ chương trình.

Lợi thế để hình thành vùng nguyên liệu quế

Các xã Quế Phong, Tiền Phong, Thông Thụ, Mường Quàng và Tri Lễ (thuộc huyện Quế Phong trước đây) được đánh giá là những địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển cây quế. Phần lớn diện tích đất là đất feralit đỏ vàng, phân bố ở độ cao từ 400-800 m so với mực nước biển, tầng đất dày, khả năng giữ ẩm tốt và giàu dinh dưỡng. Đây là điều kiện phù hợp để các loài cây lâm nghiệp dài ngày, đặc biệt là cây quế, sinh trưởng và phát triển.

trong-que_1786074688.jpg
Cây quế phù hợp với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng ở vùng cao các xã Quế Phong, Mường Quàng, Tiền Phong, Thông Thụ, Tri Lễ,...

Bên cạnh yếu tố thổ nhưỡng, khí hậu khu vực cũng tạo nên lợi thế riêng. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi Nghệ An và nước bạn Lào, khu vực có lượng mưa khá lớn, độ ẩm cao, mùa hè mát hơn vùng thấp trong khi mùa đông không quá khắc nghiệt. Điều kiện khí hậu này rất thích hợp với các loài cây dược liệu, cây chứa tinh dầu như quế.

Không chỉ có lợi thế tự nhiên, người dân địa phương còn có nhiều năm gắn bó với nghề rừng. Kinh nghiệm trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đã giúp cây quế từng bước thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, cho tỷ lệ sống cao và ít sâu bệnh hơn nhiều loại cây trồng khác.

Những yếu tố trên tạo tiền đề để các địa phương của tỉnh Nghệ An từng bước hình thành vùng nguyên liệu quế tập trung, phục vụ chế biến sâu và nâng cao giá trị kinh tế từ rừng.

Qua kết quả rà soát tại 5 xã Quế Phong, Mường Quàng, Tiền Phong, Thông Thụ và Tri Lễ cho thấy, tổng diện tích trồng quế hiện đạt gần 1.494 ha. Trong đó có 553,8 ha dưới 3 năm tuổi, 639 ha từ 3 đến 7 năm tuổi và hơn 301 ha  trên 7 năm tuổi.

Diện tích quế tập trung nhiều nhất ở xã Thông Thụ, tiếp đến là Quế Phong, Tri Lễ, Tiền Phong và Mường Quàng. Cơ cấu tuổi rừng khá đồng đều, trong đó diện tích quế dưới 7 năm tuổi chiếm tỷ trọng lớn. Điều này cho thấy vài năm trở lại đây, nhiều hộ dân đã mạnh dạn mở rộng diện tích, coi quế là cây trồng có triển vọng thay thế một số loại cây lâm nghiệp hiệu quả thấp.

trong-que4_1786074792.jpg
Quế từ 1 đến 2 năm tuổi được trồng dưới tán cây để đảm bảo sinh trưởng tốt

Tuy nhiên, việc phát triển cây quế hiện vẫn còn không ít hạn chế. Phần lớn diện tích được trồng nhỏ lẻ, phân tán theo từng hộ gia đình, chưa hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn. Liên kết giữa người trồng với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ còn lỏng lẻo, trong khi sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu mới ở dạng nguyên liệu thô nên giá trị gia tăng chưa cao.

"Việc triển khai mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất trong năm 2026 không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ cây giống hay kỹ thuật cho người dân mà còn là bước đi nhằm xây dựng vùng nguyên liệu quế tập trung, từng bước hình thành chuỗi liên kết. Khi cây quế thực sự trở thành cây đặc sản và làm giàu từ rừng, đây sẽ là nền tảng quan trọng để đồng bào vùng cao vừa có sinh kế ổn định, vừa nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững", ông Nguyễn Văn Sinh, Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cho biết.

Kỳ vọng sinh kế bền vững từ rừng quế

Nhiều năm qua, keo vẫn là cây trồng chủ lực trên phần lớn diện tích rừng sản xuất ở vùng cao của tỉnh Nghệ An. Thế nhưng, sau mỗi chu kỳ khai thác khoảng 5 năm, khoản thu nhập mà người dân thu về không thực sự tương xứng với công sức và quỹ đất đã bỏ ra.

Khảo sát thực tế từ người dân cho thấy, mỗi héc-ta keo chỉ mang lại doanh thu khoảng 30–40 triệu đồng, chưa trừ chi phí đầu tư. Đó là chưa kể những rủi ro ngày càng lớn do thiên tai. Những trận mưa đá, lốc xoáy xuất hiện với tần suất dày hơn trong những năm gần đây khiến nhiều diện tích keo bị gãy đổ, người trồng gần như mất trắng.

trong-que2_1786075048.jpg
Người dân tham gia Dự án trồng quế được hỗ trợ cây giống và tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc

Ngoài rủi ro thiên tai, không phải vùng đất nào ở vùng cao Nghệ An cũng phù hợp với cây keo. Tại nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa, địa hình dốc, đất nghèo dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế từ loại cây này ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế. Đất rừng vẫn được phủ xanh nhưng giá trị mang lại chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi người dân vẫn loay hoay với bài toán sinh kế.

Từ thực tế đó, cây quế đang được kỳ vọng trở thành hướng đi mới cho kinh tế lâm nghiệp của địa phương.

Khác với keo chỉ khai thác gỗ, quế gần như không có phần nào bị bỏ phí. Vỏ quế là nguyên liệu cho ngành dược liệu và chế biến thực phẩm; lá, cành được thu mua để chưng cất tinh dầu; gỗ sau khai thác tiếp tục tạo thêm nguồn thu. Một cây nhưng cho nhiều sản phẩm, đồng nghĩa với việc giá trị kinh tế cũng được gia tăng đáng kể. Đặc biệt, giống quế của Nghệ An đã được đưa vào danh mục nguồn gen quý cần bảo tồn của tỉnh và được đánh giá có hàm lượng tinh dầu cao.

Những diện tích quế đã được người dân trồng từ nhiều năm trước tại xã Thông Thụ là minh chứng rõ nhất. Theo các hộ dân, sau khoảng 5–7 năm kể từ khi trồng, mỗi héc-ta quế có thể mang lại nguồn thu từ 300–400 triệu đồng. Từ năm thứ 3, người trồng đã có thể tỉa thưa những cây sinh trưởng kém để bán, tạo nguồn thu "lấy ngắn nuôi dài" trong quá trình chăm sóc.

Quế cũng không phải đợi đến kỳ khai thác cuối mới có giá trị. Lá quế được thu mua quanh năm để sản xuất tinh dầu; quế thanh được thương lái đặt hàng theo nhu cầu; phần gỗ cũng có thị trường tiêu thụ riêng. Khi cây đạt tuổi từ 12–15 năm, tổng giá trị thu được có thể lên tới 600–700 triệu đồng mỗi héc-ta nếu được chăm sóc đúng quy trình và thị trường ổn định.

trong-que5_1786075103.jpg
Anh Cán Văn Khoát (bên trái) ở bản Tân Thái, xã Tri Lễ kỳ vọng cây quế sẽ mang lại nhiều đổi thay cho gia đình trong thời gian tới

Anh Cán Văn Khoát, ở bản Tân Thái, xã Tri Lễ - một trong những hộ tham gia dự án, cho biết: “Qua tìm hiều từ các hộ có nhiều năm trồng, tôi nhận thấy cây quế có ưu điểm rất lớn và phù hợp với đồng bào chúng tôi, đó là khả năng thu hoạch linh hoạt".

Trong quá trình trồng quế, người trồng có thể khai thác từng phần theo nhu cầu thay vì phải chặt trắng cả lô rừng như đối với cây keo. Điều này giúp giảm tải áp lực về nguồn thu nhập trong thời gian chờ cây quế phát triển đạt chuẩn theo yêu cầu của thương lái. "Khi lựa chọn loại cây trồng này, tôi rất kỳ vọng sẽ mang lại nhiều đổi thay cho gia đình trong thời gian tới”, anh Khoát nói.

Tuy nhiên, để quế thực sự trở thành cây làm giàu cho đồng bào miền núi, câu chuyện không chỉ dừng ở việc mở rộng diện tích trồng.

Theo ông Nguyễn Văn Mạnh, Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế (Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt), cây quế đang được định hướng trở thành cây đặc sản của địa phương. Người dân được hướng dẫn trồng khoảng 2.000 cây/ha. Trong quá trình chăm sóc sẽ tiến hành tỉa thưa để vừa có thêm nguồn thu, vừa bảo đảm mật độ cuối cùng khoảng 1.000 cây/ha khi bước vào giai đoạn khai thác chính.

Song song với đó, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cũng triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng chuỗi giá trị cho cây quế. Người dân được tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và sơ chế sản phẩm; tiếp cận tiến bộ khoa học - công nghệ, từng bước ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, đơn vị cũng kết nối các tổ chức, dự án và doanh nghiệp để hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu.

Theo định hướng phát triển trong thời gian tới, vùng nguyên liệu quế sẽ được quy hoạch tập trung trên cơ sở điều kiện lập địa, quy hoạch lâm nghiệp và nhu cầu thực tế của người dân. Trước mắt, các địa phương như Mường Quàng, Thông Thụ, Quế Phong và Tiền Phong sẽ là những vùng ưu tiên mở rộng diện tích; xã Tri Lễ tiếp tục phát triển có chọn lọc trên những diện tích đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

trong-que6_1786075401.jpg
Vườn ươm cây giống của đơn vị cung ứng cho các hộ dân tham gia dự án

Mục tiêu không chỉ là tăng thêm diện tích rừng quế, mà còn từng bước hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn để thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu các sản phẩm như tinh dầu quế, bột quế, vỏ quế và nhiều sản phẩm giá trị gia tăng khác.

Để làm được điều đó, việc phát triển quế phải được thực hiện theo hướng bền vững, tránh làm theo phong trào và phát triển tự phát. Công tác quản lý giống, hướng dẫn kỹ thuật, bảo vệ rừng, phòng trừ sâu bệnh, khai thác và sơ chế sau thu hoạch cần được thực hiện đồng bộ. Cùng với đó là khuyến khích người dân liên kết thành các tổ hợp tác, hợp tác xã để xây dựng thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh và chủ động hơn trong tiếp cận thị trường...

Hiện nay, Nghệ An đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển dược liệu giai đoạn 2026–2030 nhằm tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy định hướng phát triển ngành dược liệu một cách bài bản, dài hạn. Trọng tâm là xây dựng quy hoạch vùng trồng dược liệu tập trung; thu hút đầu tư vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hoàn thiện cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực và đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để phát triển ngành dược liệu đồng bộ, bền vững, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Việc thành lập Ban Chỉ đạo được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho quá trình hình thành và mở rộng các vùng nguyên liệu dược liệu tập trung, trong đó có vùng quế. Đây được xem là “cú hích” quan trọng tạo đà để xây dựng chuỗi giá trị khép kín, nâng cao giá trị gia tăng của cây quế, góp phần giảm nghèo, tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi và thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng hiện đại.

Bùi Ánh