Bảo vệ tầng ô-dôn hướng đến hệ sinh thái làm mát bền vững

Bảo vệ tầng ô-dôn hướng đến hệ sinh thái làm mát bền vững

Thứ bảy, 3/10/2026, 06:25 (GMT+7)
logo Chủ đề Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026: “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”, đang đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ kiểm soát các chất làm suy giảm tầng ô-dôn sang thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững. Trong bối cảnh nhu cầu làm mát ngày càng gia tăng, việc nâng cao hiệu quả năng lượng, chuyển đổi công nghệ và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn đang trở thành những hướng đi quan trọng, gắn bảo vệ tầng ô-dôn với ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
vn-cam-ket-vao-ve-tang-o-don-va-bao-ve-khi-hau-toan-cau_1790570918.jpg
Việt Nam cam kết bảo vệ tầng ô-dôn và khí hậu toàn cầu. Ảnh minh họa

Quản lý và kiểm soát hệ thống chất làm mát

Làm mát đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của đời sống hiện đại, từ sinh hoạt dân cư đến sản xuất, dịch vụ và các hệ thống hạ tầng thiết yếu. Tuy nhiên, sự gia tăng của các đợt nắng nóng gay gắt và thời tiết cực đoan đang tạo ra một vòng lặp ngày càng rõ: khí hậu nóng lên làm nhu cầu làm mát tăng, trong khi chính hoạt động làm mát nếu sử dụng thiết bị kém hiệu quả, tiêu thụ nhiều năng lượng và sử dụng các môi chất lạnh có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao lại có thể làm gia tăng áp lực đối với khí hậu.

Tại Việt Nam, điện năng dành riêng cho các hệ thống làm mát hiện chiếm khoảng một phần tư tổng tiêu thụ điện toàn quốc và được dự báo tiếp tục gia tăng mạnh trong những thập kỷ tới nếu không có các giải pháp can thiệp hiệu quả. Con số này cho thấy làm mát không còn chỉ là vấn đề kỹ thuật của ngành lạnh hay vấn đề môi trường liên quan đến môi chất lạnh, mà đã trở thành nội dung gắn trực tiếp với hiệu quả sử dụng năng lượng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và định hướng phát triển bền vững.

Trong bối cảnh đó, chủ đề Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 đặt ra một cách tiếp cận có ý nghĩa đối với Việt Nam. Năm 2026 đồng thời đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở rộng trọng tâm từ loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn sang giảm dần HFC - nhóm chất không làm suy giảm tầng ô-dôn nhưng nhiều loại có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao và được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí.

Hơn ba thập kỷ tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal, Việt Nam đã từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu tập trung vào loại trừ từng nhóm chất sang xây dựng một hệ thống quản lý ngày càng toàn diện hơn. CFC, Halon và CTC đã được loại trừ hoàn toàn; HCFC-141b nguyên chất trong sản xuất xốp đã được loại trừ. Việt Nam tiếp tục thực hiện lộ trình loại trừ HCFC, với mức tiêu thụ giai đoạn 2025-2029 không vượt 32,5% mức cơ sở, tương ứng hạn ngạch nhập khẩu 1.300 tấn/năm. Từ năm 2024, HFC cũng bắt đầu được quản lý theo hạn ngạch nhập khẩu để thực hiện lộ trình giảm dần theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali.

Kết quả của quá trình này không chỉ được thể hiện ở việc đáp ứng các nghĩa vụ quốc tế. Theo thống kê của Ban Thư ký Ô-dôn, việc thực hiện Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải tương đương khoảng 260 triệu tấn CO₂. Đây là minh chứng cho thấy chính sách bảo vệ tầng ô-dôn đồng thời có thể tạo ra những lợi ích đáng kể đối với khí hậu.

Tuy nhiên, khi nhu cầu làm mát tiếp tục tăng, bài toán mới không thể chỉ dừng ở việc kiểm soát lượng chất được nhập khẩu vào thị trường. Một lượng đáng kể môi chất lạnh đã tồn tại trong các thiết bị và hệ thống đang vận hành. Trong quá trình lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hoặc khi thiết bị hết thời gian sử dụng, lượng môi chất này vẫn có nguy cơ rò rỉ hoặc phát thải trực tiếp ra môi trường nếu không được quản lý đúng cách. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ quản lý “đầu vào” sang quản lý toàn bộ vòng đời của môi chất lạnh và thiết bị làm mát.

thach-thuc-tu-yeu-cam-lam-mat-bang-may-lanh_1790570983.jpg
Thách thức từ nhu cầu sử dụng máy lạnh ngày càng gia tăng. Ảnh CT

Đây chính là điểm chuyển quan trọng trong tư duy chính sách: Làm mát bền vững không chỉ là thay một loại môi chất bằng một loại môi chất khác, cũng không đơn thuần là thay thiết bị cũ bằng thiết bị có hiệu suất cao hơn. Đó phải là một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó giảm nhu cầu làm mát khi có thể, nâng cao hiệu quả thiết bị và hệ thống, chuyển đổi sang môi chất lạnh có GWP thấp phù hợp với yêu cầu an toàn và từng ứng dụng, đồng thời quản lý môi chất trong suốt vòng đời và nâng cao năng lực đội ngũ kỹ thuật.

Hoàn thiện chính sách, mở không gian cho kinh tế tuần hoàn 

Một trong những điều kiện nền tảng để chuyển đổi sang làm mát bền vững là phải hình thành được khung chính sách đủ rộng để bao quát toàn bộ vòng đời của sản phẩm và môi chất. Việt Nam đã từng bước tạo dựng nền tảng này thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và các văn bản liên quan.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lần đầu tiên đưa khái niệm kinh tế tuần hoàn và cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển trách nhiệm của nhà sản xuất từ phạm vi sản xuất, phân phối sang trách nhiệm đối với vòng đời cuối của sản phẩm, qua đó tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp thực hiện tái chế, tái sử dụng. Đối với lĩnh vực làm mát, cách tiếp cận này mở ra yêu cầu quản lý không chỉ đối với thiết bị mà cả sản phẩm sau sử dụng.

Nghị định số 08/2022/NĐ-CP đã cụ thể hóa yêu cầu đối với từng nhóm sản phẩm. Riêng đối với tủ lạnh và máy điều hòa không khí, nghị định ấn định tỷ lệ tái chế bắt buộc 5% trong giai đoạn đầu kể từ năm 2025. Việc đưa các sản phẩm làm mát vào phạm vi quản lý của EPR tạo thêm động lực để doanh nghiệp đầu tư vào thu gom và xử lý, đồng thời hình thành khuôn khổ cho các cơ sở tái chế và nhà sản xuất.

Một bước tiến đáng chú ý là Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đã đưa khái niệm “làm mát bền vững” vào văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, trách nhiệm của nhà sản xuất và nhập khẩu được mở rộng sang thu gom, xử lý môi chất lạnh chứa trong sản phẩm. Điều này có ý nghĩa đặc biệt bởi các môi chất có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao có thể phát thải ra môi trường trong quá trình sử dụng, tháo dỡ hoặc xử lý thiết bị.

1.-dan-lanh-dieu-hoa-cong-nghiep_1790650709.jpg
Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ấn định tỷ lệ tái chế bắt buộc 5% đối với tủ lạnh và máy điều hòa không khí trong giai đoạn đầu kể từ năm 2025.  Ảnh minh họa

Cùng với hoàn thiện thể chế trong nước, các cam kết quốc tế tạo thêm động lực cho quá trình chuyển đổi. Việt Nam tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu tại COP28, cùng các quốc gia hướng tới mục tiêu giảm 68% lượng phát thải khí nhà kính từ ngành làm mát vào năm 2050 so với mức năm 2022. Trên nền tảng đó, NCAP được xác định là công cụ thực thi, gắn với mục tiêu NDC và kết nối các công cụ pháp lý trong nước với thông lệ quốc tế.

Từ góc độ thị trường, làm mát bền vững cũng đang có cơ hội chuyển từ một yêu cầu môi trường thành một lĩnh vực đầu tư. Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, chủ động đầu tư, đổi mới sáng tạo và áp dụng các giải pháp làm mát bền vững có thể tạo ra nhiều cơ hội đối với doanh nghiệp. Khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp có cơ sở tốt hơn để đầu tư, đổi mới công nghệ và tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế.

Sau khi Việt Nam tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu năm 2023, Bộ NN&MT đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát tại Quyết định số 496/QĐ-TTg, trong đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến làm mát bền vững. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục thể chế hóa khái niệm này và bổ sung các chính sách khuyến khích.

Cùng với đó, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh tiếp tục tạo cơ sở để các dự án làm mát bền vững đáp ứng tiêu chí có thể được xác nhận thuộc danh mục phân loại xanh. Đây là một bước kết nối mục tiêu khí hậu, môi trường với các nguồn tài chính xanh.

Trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam cần ưu tiên nâng cao năng lực và chất lượng thực hành của kỹ thuật viên; tăng cường thu hồi môi chất lạnh; từng bước phát triển mạng lưới thu gom, vận chuyển, lưu giữ; phát triển năng lực tái sử dụng, tái chế và xử lý phù hợp; đồng thời, tăng cường theo dõi, báo cáo để quản lý tốt hơn dòng môi chất lạnh. Đây là những điều kiện cần thiết để các mục tiêu chính sách từng bước đưa vào thực tiễn. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 giảm trực tiếp hơn 11,2 triệu tấn CO₂ tương đương từ việc quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát, góp phần thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Minh Tri
Nguồn: Tài liệu: Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026,Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP