Văn bản hợp nhất số 74/2026/VBHN-TT-BNNMT ngày 4/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết một số nội dung của Luật Lâm nghiệp, trong đó khuyến khích hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ hợp tác liên kết theo nhóm chủ rừng với diện tích từ 100 ha để đăng ký mã số rừng trồng, phục vụ truy xuất nguồn gốc lâm sản.
Văn bản hợp nhất số 74/2026/VBHN-TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định mã số được cấp cho diện tích rừng sản xuất là rừng trồng nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc lâm sản. Mỗi mã số gắn với những thông tin cơ bản như chủ rừng, số hiệu lô, khoảnh, tiểu khu, địa bàn xã và tỉnh, diện tích, loài cây, năm trồng và tọa độ địa lý.
Điểm đáng chú ý là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ hợp tác được khuyến khích đăng ký theo hình thức nhóm chủ rừng, với tổng diện tích đề nghị cấp mã từ 100 héc-ta trở lên. Đây là cơ chế khuyến khích liên kết, không phải điều kiện bắt buộc khiến những chủ rừng có diện tích nhỏ hơn 100 héc- ta mất quyền đề nghị cấp mã.
Theo quy định, diện tích đề nghị cấp mã phải thuộc quy hoạch lâm nghiệp và được trồng trên đất sử dụng hợp pháp. Chi cục Kiểm lâm hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện việc cấp, cấp lại và hủy mã. Nếu hồ sơ hợp lệ và dữ liệu diện tích đồng bộ với hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, thời hạn xử lý là 10 ngày làm việc; mã QR được gắn cho mã số đã cấp và dữ liệu được cập nhật để tra cứu.
"Mỗi lô rừng phải có định danh và phải được số hóa".
|
Rừng trồng của hộ dân tại nhiều địa phương thường phân tán thành các lô nhỏ, khác nhau về chủ sở hữu, tuổi cây và thời điểm khai thác. Tình trạng manh mún này khiến việc đo đạc, lập hồ sơ, tổ chức khai thác và chứng minh nguồn gốc trở nên tốn kém. Khi các chủ rừng tập hợp thành nhóm, tổng diện tích đủ lớn có thể tạo điều kiện để chia sẻ chi phí kỹ thuật, chuẩn hóa hồ sơ và hình thành vùng nguyên liệu có khả năng cung ứng ổn định hơn cho doanh nghiệp chế biến.
Thực tế thí điểm cho thấy, số hóa có thể làm thay đổi cách quản lý rừng. Tại Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc, hơn 2.565 héc-ta rừng đã được cấp mã số; các lô keo, bạch đàn và cây bản địa được định danh, số hóa trên hệ thống iTwood. Thay vì chỉ xác nhận chung đó là “gỗ của công ty”, nguồn gốc có thể được truy xuất đến từng vùng và từng lô. Mô hình này cũng có sự tham gia của các hộ nhận khoán.
Tuy nhiên, liên kết đủ 100 héc-ta mới chỉ là bước đầu. Nhóm chủ rừng cần thống nhất người đại diện, có giấy ủy quyền cho trưởng nhóm và bảo đảm thông tin của từng lô rừng chính xác. Khi thay đổi chủ rừng hoặc biến động diện tích, chủ rừng phải thông báo cho cơ quan cấp mã. Không thông báo trong vòng 15 ngày, hoặc có hành vi làm giả, sửa đổi, gian lận thông tin trên giấy cấp mã, có thể dẫn đến việc mã số bị hủy.
Trên giấy tờ, một hồ sơ nhóm giúp nhiều chủ rừng cùng tham gia. Ngoài thực địa, việc ghép những lô rừng nhỏ thành vùng nguyên liệu có thể gặp khó nếu ranh giới chưa rõ, hồ sơ đất đai thiếu thống nhất hoặc thông tin diện tích chưa trùng khớp với hệ thống theo dõi diễn biến rừng. Quy định đã dự liệu trường hợp dữ liệu chưa đồng bộ: Cơ quan cấp mã phải thông báo để xác minh và bổ sung hồ sơ. Tuy nhiên, tốc độ xử lý trong thực tế phụ thuộc nhiều vào chất lượng dữ liệu nền và năng lực hỗ trợ tại địa phương.
Đây cũng là lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt vấn đề xây dựng cơ sở dữ liệu lâm nghiệp thống nhất toàn quốc, tận dụng các phần mềm đã đầu tư và không chuyển gánh nặng kỹ thuật sang người dân hoặc doanh nghiệp. Nếu người trồng rừng phải tự lo toàn bộ việc đo tọa độ, dựng bản đồ, đối chiếu hồ sơ và cập nhật biến động, chi phí tuân thủ có thể làm giảm động lực tham gia, nhất là với các hộ sở hữu diện tích nhỏ.
Việc tổ chức nhóm vì thế cần đi cùng dịch vụ hỗ trợ tại cơ sở: hướng dẫn xác lập ranh giới, chuẩn hóa thông tin lô rừng, lựa chọn trưởng nhóm, xây dựng quy chế phối hợp và phân định trách nhiệm khi có sai lệch. Danh sách mã số đã cấp hoặc bị hủy cũng cần được công khai và cập nhật kịp thời để doanh nghiệp thu mua có thể kiểm tra.
Một mã số chứa tọa độ, loài cây, năm trồng và thông tin chủ rừng là nền tảng quan trọng cho truy xuất nguồn gốc. Nhưng cần tránh kỳ vọng rằng có mã số đồng nghĩa với việc lô gỗ đã tự động đáp ứng mọi tiêu chuẩn thị trường. Mã số rừng trồng không thay thế chứng chỉ quản lý rừng bền vững như VFCS/PEFC, cũng không tự động chứng minh tuân thủ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Đối với EUDR, doanh nghiệp còn phải chứng minh sản phẩm không có nguồn gốc từ diện tích gây mất rừng hoặc suy thoái rừng sau mốc ngày 31/12/2020 và đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dữ liệu bản đồ ranh giới rừng năm 2020 để Việt Nam chủ động đối chiếu bằng dữ liệu không gian, giảm nguy cơ bị đánh giá sai khi bên nhập khẩu sử dụng những bộ dữ liệu quốc tế có độ phân giải hoặc mức độ kiểm chứng không phù hợp với thực địa.
Tương tự, mã số rừng trồng cũng không tự động tạo ra tín chỉ carbon. Một dự án carbon rừng phải trải qua các bước riêng như xây dựng dự án, xác định đường cơ sở, đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ theo tiêu chuẩn phù hợp. Dữ liệu định danh lô rừng có thể hỗ trợ các quá trình đó, nhưng không thể thay thế chúng.
Để chính sách đi vào cuộc sống, việc cấp mã số rừng trồng cần được kết nối với thị trường. Một nhóm chủ rừng đã hoàn tất hồ sơ và minh bạch dữ liệu phải có cơ hội tiếp cận doanh nghiệp chế biến, hợp đồng bao tiêu, chương trình trồng rừng gỗ lớn hoặc chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Nếu mã số chỉ bổ sung thêm một lớp thủ tục mà không cải thiện khả năng bán hàng, giảm chi phí hoặc nâng cao vị thế đàm phán, sự tham gia tự nguyện sẽ khó bền vững.
Doanh nghiệp thu mua cũng cần công bố rõ tiêu chí, khối lượng và cơ chế giá đối với vùng nguyên liệu có khả năng truy xuất. Hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc doanh nghiệp liên kết có thể đóng vai trò đầu mối hỗ trợ hồ sơ, điều phối kế hoạch khai thác và bảo đảm quyền lợi giữa các thành viên. Cơ quan quản lý tập trung vào xác nhận dữ liệu, liên thông hệ thống và giám sát tính minh bạch.
Ngưỡng 100 héc-ta vì thế không nên được nhìn nhận như một "hàng rào diện tích" mà cần được xem là động lực khuyến khích chủ rừng nhỏ chuyển từ sản xuất riêng lẻ sang hợp tác theo vùng nguyên liệu. Khi đó, thành công của cơ chế này không chỉ nằm ở số lượng mã QR được cấp, mà quan trọng hơn là số hộ dân được tham gia chuỗi cung ứng minh bạch, số lô rừng có dữ liệu chính xác và phần giá trị gia tăng thực sự được tạo ra và quay trở lại với người trồng rừng.