news
Đà Nẵng đánh thức giá trị văn hóa, mở rộng không gian du lịch

Đà Nẵng đánh thức giá trị văn hóa, mở rộng không gian du lịch

Chủ nhật, 11/10/2026, 15:39 (GMT+7)
logo Từ biển, đảo, sông, hồ đến làng quê và di tích, khu vực phía Nam Đà Nẵng đang được định hình thành một không gian du lịch đa lớp. Ở đó, tài nguyên không chỉ để ngắm nhìn mà được kỳ vọng chuyển hóa thành sản phẩm, giá trị kinh tế và sinh kế cho cộng đồng. Trong hành trình ấy, văn hóa có thể trở thành sợi dây nối những không gian tưởng như riêng biệt, còn khu vực kinh tế tư nhân và cộng đồng là lực lượng đưa tài nguyên thành sản phẩm trên thị trường.

Từ những mảnh ghép tài nguyên

Một vùng biển, một dòng sông, hồ nước, làng quê hay di tích lịch sử nếu đứng riêng lẻ có thể chỉ tạo nên một điểm dừng chân. Nhưng khi những tài nguyên ấy được đặt trong cùng một không gian và kết nối bằng câu chuyện văn hóa, chúng có thể tạo thành một hành trình dài hơn, nhiều trải nghiệm hơn và quan trọng hơn là giữ chân du khách lâu hơn. Đó là hướng tiếp cận đáng chú ý trong Kế hoạch phát triển du lịch trọng điểm khu vực phía Nam thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026-2030.

Theo kế hoạch, 7 địa bàn gồm các phường Tam Kỳ, Quảng Phú, Hương Trà, Bàn Thạch và các xã Tam Xuân, Tam Hải, Phú Ninh được xác định là những địa bàn trọng điểm. Thành phố hướng đến khai thác đồng bộ hệ sinh thái biển, đảo, sông, hồ, làng quê và di tích; đồng thời mở rộng không gian du lịch, giảm áp lực cho khu vực trung tâm và phố cổ Hội An.

dn-9_1791174383.jpg
Biển khu vực Tam Kỳ

Điểm đáng chú ý không nằm ở việc có thêm 7 địa bàn trên bản đồ du lịch, mà ở cách tổ chức lại những tài nguyên vốn đã tồn tại thành một hệ thống có khả năng hỗ trợ lẫn nhau. Khu vực Tam Kỳ - Bàn Thạch - Hương Trà - Quảng Phú được xác định là lõi phát triển, gắn du lịch với thương mại, dịch vụ, giáo dục và kinh tế đêm. Từ khu vực đô thị này, dòng khách được định hướng kết nối với Phú Ninh, Tam Xuân, Tam Hải và các địa bàn lân cận, tạo nên nhiều loại hình trải nghiệm. Ở góc độ quản lý ngành, những định hướng này cũng đang được Đà Nẵng cụ thể hóa từ chính các không gian di sản. Ở góc độ quản lý ngành, bà Trương Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, cho rằng trong không gian phát triển mới, thành phố cần phát triển hệ thống sản phẩm du lịch theo cả chiều sâu và chiều rộng, trong đó bản sắc và giá trị văn hóa truyền thống phải trở thành nền tảng, đồng thời lấy các tiêu chí du lịch xanh, du lịch bền vững làm cơ sở để phát triển và đa dạng hóa sản phẩm.

d-1_1791174528.jpg
Lấy các tiêu chí du lịch xanh, du lịch bền vững làm cơ sở để phát triển và đa dạng hóa sản phẩm.

Theo định hướng này, giá trị văn hóa không nên được khai thác tách rời khỏi cảnh quan và đời sống cộng đồng, mà cần được chuyển hóa thành những trải nghiệm cụ thể, có khả năng tạo giá trị kinh tế nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu bảo tồn. Đây cũng là hướng để những không gian mới như phía Nam thành phố không chỉ bổ sung thêm điểm đến, mà từng bước hình thành những sản phẩm có bản sắc riêng.

Đáng chú ý, trong định hướng phát triển du lịch sau khi không gian thành phố được mở rộng, bà Hạnh cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tăng số lượng khách sang tăng giá trị của mỗi lượt khách, để dòng tiền du lịch có thể được phân bổ tới nhiều doanh nghiệp, nghệ nhân và cộng đồng hơn.

Tư duy ấy cũng có thể nhìn thấy trong cách Đà Nẵng định hình không gian du lịch phía Nam: biển, đảo, sông, hồ, làng quê hay di tích không đứng riêng lẻ mà được kết nối thành những trải nghiệm có bản sắc. Khi tài nguyên được chuyển hóa thành sản phẩm, người dân địa phương không chỉ đứng bên ngoài phục vụ du khách mà có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị – từ lưu trú, ẩm thực, trải nghiệm văn hóa đến các sản phẩm làng nghề, nông nghiệp và dịch vụ cộng đồng.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu chuyển trọng tâm từ chạy theo số lượng khách sang nâng cao giá trị mà mỗi du khách tạo ra cho điểm đến, để nguồn thu du lịch lan tỏa rộng hơn tới doanh nghiệp, nghệ nhân và cộng đồng địa phương.

Văn hóa không chỉ nằm trong di tích

Trong cấu trúc du lịch mới, văn hóa cần được nhìn rộng hơn những công trình đã được xếp hạng hay những địa chỉ được ghi trên bản đồ. Tam Kỳ - Bàn Thạch - Quảng Phú - Hương Trà có những tài nguyên lịch sử, văn hóa và sông nước như Địa đạo Kỳ Anh, Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, Bãi sậy sông Đầm. Đây là những điểm có thể tạo nên chiều sâu cho sản phẩm du lịch phía Nam, nhưng giá trị của chúng sẽ khó phát huy hết nếu chỉ dừng ở việc đưa khách đến tham quan rồi rời đi.

dn-2.1_1791174794.jpg
Tượng đài mẹ Mẹ Việt Nam Anh hùng

Địa đạo Kỳ Anh không chỉ là một công trình dưới lòng đất. Đằng sau đó là câu chuyện về làng quê, con người, ký ức chiến tranh và sức sống của một cộng đồng. Quần thể Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng không chỉ là một điểm tưởng niệm, mà có thể mở ra câu chuyện về gia đình, truyền thống, sự hy sinh và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Còn Bãi sậy sông Đầm lại mở ra một lớp văn hóa khác - văn hóa sông nước, cảnh quan tự nhiên và đời sống của cư dân gắn với vùng đất.

Nếu biết kể lại những câu chuyện ấy bằng một cách gần gũi, du lịch văn hóa sẽ không còn là những chuyến đi “xem di tích”. Du khách có thể được dẫn từ lịch sử đến đời sống hiện tại, từ ký ức đến cảnh quan, từ câu chuyện của vùng đất đến bữa ăn, sản phẩm và sinh hoạt của người dân. Đó cũng là cách nối di tích với làng quê, nối sông nước với nông nghiệp, nối Tam Kỳ với Tam Xuân và từ đó mở đường ra biển Tam Hải. Văn hóa khi ấy không đứng bên cạnh du lịch sinh thái hay du lịch biển, mà trở thành sợi dây kết nối các loại hình du lịch.

Mỗi địa bàn một sắc thái

Trong không gian ấy, mỗi địa bàn cần một câu chuyện riêng thay vì cùng phát triển những sản phẩm giống nhau. Tam Kỳ - Bàn Thạch - Hương Trà - Quảng Phú có lợi thế về đô thị, lịch sử, văn hóa và sông nước, có thể trở thành trung tâm đón khách, cung cấp dịch vụ và phân phối dòng khách. Tam Xuân có thể đóng vai trò vùng chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn, nơi những giá trị của làng quê, nông nghiệp và đời sống dân cư được đưa vào sản phẩm trải nghiệm.

dn-8_1791174364.jpg
Sản phẩm OCOP địa phương tạo sinh kế bền vững khi kết hợp cùng du lịch.

Tam Hải lại sở hữu lợi thế khác biệt về biển, đảo, làng chài, nghệ thuật và đời sống cộng đồng. Nếu khai thác hợp lý, đây không nhất thiết phải trở thành một điểm biển đại trà. Chính câu chuyện của làng chài, nghề biển, ẩm thực, tín ngưỡng và đời sống cư dân có thể tạo nên bản sắc riêng. Trong khi đó, hồ Phú Ninh cùng Hương Trà có thể bổ sung một lớp trải nghiệm chậm hơn: sinh thái, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, nông nghiệp và làng quê.

Sự khác biệt ấy là điều cần thiết để tạo nên một hệ thống. Bởi một không gian du lịch chỉ thực sự có sức cạnh tranh khi các điểm đến không tranh giành cùng một sản phẩm, mà bổ trợ cho nhau.

dn-2_1791174410.jpg

Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa vào khai thác chính thức ít nhất 7 điểm du lịch tại 7 địa bàn trọng điểm, mỗi địa bàn hình thành ít nhất một sản phẩm đặc trưng; xây dựng và đưa vào khai thác 12-15 chương trình du lịch mới. Nhưng một điểm đến chỉ thực sự trở thành sản phẩm khi du khách có lý do để ở lại. Đó có thể là một buổi trải nghiệm đời sống làng chài ở Tam Hải, một hành trình tìm hiểu lịch sử tại Địa đạo Kỳ Anh, một chuyến khám phá sông nước, một bữa cơm quê, một trải nghiệm nông nghiệp hay một đêm lưu trú giữa không gian sinh thái.

Khi các trải nghiệm được kết nối, giá trị của tài nguyên cũng thay đổi. Một cánh đồng không chỉ còn là nơi sản xuất; một khu vườn không chỉ là không gian sinh hoạt của gia đình; một món ăn không chỉ là thực phẩm; một ngôi nhà không chỉ là nơi ở. Tất cả có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị du lịch nếu được tổ chức đúng cách. Đây cũng là lý do mục tiêu phát triển khoảng 20-30 cơ sở lưu trú du lịch cộng đồng, homestay, farmstay và các mô hình lưu trú gắn với trải nghiệm nông nghiệp, sinh thái có ý nghĩa không chỉ về số lượng phòng. Điều quan trọng hơn là những mô hình ấy có thể tạo ra một hệ sinh thái kinh tế tại chỗ hay không.

Chuyên gia Phạm Hải Quỳnh – Viện trưởng Viện du lịch phát triển Châu Á chia sẻ: Định hướng lấy cộng đồng làm trung tâm, bảo đảm người dân tham gia tổ chức hoạt động, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và hưởng lợi từ du lịch là một điểm then chốt. Bởi tài nguyên du lịch phía Nam Đà Nẵng phần lớn không phải những thứ được tạo ra trong một sớm một chiều. Đó là cảnh quan, văn hóa, làng quê, nghề nghiệp, ẩm thực, tri thức bản địa và lối sống được hình thành qua nhiều thế hệ.

Nếu người dân chỉ đứng bên ngoài quá trình khai thác, du lịch có thể tạo ra doanh thu nhưng chưa chắc tạo được sinh kế bền vững. Ngược lại, khi người dân tham gia làm homestay, cung cấp thực phẩm, hướng dẫn trải nghiệm, tổ chức hoạt động văn hóa, bán sản phẩm địa phương hay đưa nông nghiệp vào hành trình du lịch, giá trị sẽ được giữ lại nhiều hơn trong cộng đồng.

Một homestay vì thế không chỉ là một căn phòng. Một farmstay cũng không chỉ là một nơi lưu trú giữa vườn cây. Phía sau một đêm nghỉ có thể là nông sản của hộ dân, bữa ăn từ nguyên liệu địa phương, sản phẩm OCOP, dịch vụ vận chuyển, hướng dẫn, trải nghiệm nghề truyền thống và câu chuyện văn hóa được chính người dân kể lại. Tài nguyên tạo nên điểm đến, nhưng cộng đồng mới là người biến điểm đến thành một sản phẩm có sức sống.

Nghị định 20 và thêm một nền tảng cho kinh tế du lịch

Đặt câu chuyện này trong bối cảnh rộng hơn, Nghị định 20/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân cũng mở ra một nền tảng chính sách đáng chú ý cho quá trình này. Nghị định được ban hành ngày 15/1/2026 và có hiệu lực từ ngày ban hành; đối tượng áp dụng gồm doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nghị định quy định các nhóm chính sách về hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh; ưu đãi thuế; hỗ trợ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực. Với khu vực phía Nam Đà Nẵng, đây có thể được nhìn nhận như một phần của môi trường kinh doanh để những tài nguyên bản địa có cơ hội được tổ chức thành sản phẩm. Bởi để một ngôi nhà trở thành homestay, một khu vườn trở thành farmstay, một làng chài trở thành sản phẩm trải nghiệm hay một món ăn địa phương bước vào chuỗi du lịch, không thể chỉ dựa vào tài nguyên. Cần có người đầu tư, người tổ chức, kỹ năng, vốn, mặt bằng, nhân lực, công nghệ và khả năng kết nối thị trường.

Nói cách khác, phát triển du lịch cộng đồng cũng là phát triển những chủ thể kinh tế ở ngay trong cộng đồng. Nghị định 20 không phải một chính sách riêng cho ngành du lịch, nhưng những cơ chế liên quan đến khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nhân lực và môi trường kinh doanh có thể trở thành một phần nền tảng để các chủ thể này tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đây là điểm cần được tính đến khi triển khai mục tiêu 20-30 cơ sở lưu trú cộng đồng, homestay, farmstay và hàng loạt sản phẩm mới. Nếu chỉ tăng số lượng cơ sở mà thiếu liên kết với nông nghiệp, OCOP, vận tải, ẩm thực, làng nghề và dịch vụ trải nghiệm, giá trị tạo ra sẽ còn hạn chế.

Ngược lại, nếu hình thành được mạng lưới doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, hợp tác xã và cộng đồng cùng tham gia, mỗi đồng chi tiêu của du khách có thể tạo thêm nhiều mắt xích thu nhập tại địa phương.

dn-6_1791174376.jpg
Ông Huỳnh Việt Hoàng, Giám đốc Công ty Du lịch Cộng đồng

Theo ông Huỳnh Việt Hoàng, Công ty Du lịch Cộng đồng, khu vực phía Nam Đà Nẵng đang có lợi thế để phát triển những sản phẩm du lịch gắn với hai giá trị cốt lõi là chạm vào thiên nhiên và trải nghiệm du lịch cộng đồng. Đây không chỉ là hướng tạo thêm sản phẩm mới mà còn mở ra những trải nghiệm khác biệt, giúp du khách có thêm lý do để ở lại lâu hơn thay vì chỉ dừng chân trong thời gian ngắn tại trung tâm thành phố.

Việc phát triển các sản phẩm phía Nam Đà Nẵng, theo ông Hoàng, cần được đặt trong một hệ sinh thái trải nghiệm đa dạng, để mỗi điểm đến có thể bổ trợ cho nhau, mở rộng sự lựa chọn của du khách. Khi những giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa và đời sống cộng đồng được kết nối thành sản phẩm hoàn chỉnh, Đà Nẵng không chỉ có thêm điểm đến mà còn có thêm cơ hội tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và khả năng quay trở lại của du khách.

Vì vậy, những hạng mục tưởng như rất kỹ thuật trong kế hoạch - giao thông kết nối, bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, hệ thống thu gom rác, biển chỉ dẫn - thực chất là một phần của năng lực cạnh tranh điểm đến. Du lịch xanh không bắt đầu từ khẩu hiệu, nó bắt đầu từ việc khách có thể đến thuận tiện nhưng không làm tổn thương cảnh quan; có thể trải nghiệm nhưng không để lại quá nhiều chất thải; người dân có thêm thu nhập nhưng vẫn giữ được không gian sống của mình.

Để giá trị  vùng đất được nâng lên

Chuyển đổi số cũng được đặt ra với mục tiêu 100% điểm du lịch trọng điểm có wifi, mã QR tra cứu thông tin tối thiểu bằng tiếng Việt và tiếng Anh, xây dựng bản đồ số toàn khu vực, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và từng bước ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu, cung cấp thông tin, quảng bá, dự báo nhu cầu và nâng cao trải nghiệm du khách. Đây là những công cụ cần thiết khi không gian du lịch được mở rộng và số lượng sản phẩm ngày càng nhiều. Nhưng công nghệ không thể thay thế tài nguyên thật của điểm đến. Một mã QR có thể giúp du khách hiểu thêm về một di tích, nhưng không thể thay thế một người dân kể câu chuyện của chính quê hương mình. AI có thể phân tích nhu cầu, hỗ trợ quảng bá và quản trị dòng khách, nhưng không thể tạo ra bản sắc nếu điểm đến đánh mất những giá trị nguyên bản. Vì vậy, công nghệ nên đứng phía sau để giúp những giá trị sẵn có được nhận diện, kết nối và quản trị tốt hơn.

Điều đáng kỳ vọng nhất trong kế hoạch phát triển du lịch phía Nam Đà Nẵng không chỉ là thêm 7 điểm du lịch hay 12-15 chương trình mới. Điều quan trọng hơn là cách những điểm đến ấy được hình thành và cách giá trị được phân bổ sau khi du khách rời đi.

Từ biển Tam Hải đến hồ Phú Ninh, từ sông Đầm đến những làng quê Tam Xuân, từ các di tích lịch sử ở Tam Kỳ đến không gian đô thị, thương mại và kinh tế đêm, mỗi nơi có một câu chuyện riêng. Nếu những câu chuyện ấy được kết nối bằng văn hóa, được nâng giá trị bằng dịch vụ và được trao trở lại cho cộng đồng thông qua sinh kế, khu vực phía Nam sẽ có cơ hội hình thành một không gian du lịch không phụ thuộc vào một điểm đến duy nhất.

Khi đó, mở rộng không gian du lịch không đồng nghĩa với mở rộng áp lực lên tài nguyên. Ngược lại, mỗi vùng đất có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị, mỗi cộng đồng trở thành một chủ thể kinh tế, mỗi sản phẩm địa phương trở thành một phần của trải nghiệm và mỗi đồng doanh thu từ du lịch có thêm cơ hội ở lại với nơi đã tạo ra nó.

Tài nguyên là điểm khởi đầu. Văn hóa tạo nên bản sắc. Doanh nghiệp và cộng đồng biến giá trị thành sản phẩm. Sinh kế tạo động lực để người dân gìn giữ. Và bảo tồn là điều kiện để hành trình ấy có thể đi xa. Đó có thể là cách để phía Nam Đà Nẵng không chỉ trở thành một không gian đón thêm du khách, mà từng bước trở thành một không gian mà ở đó phát triển du lịch và nâng cao giá trị của chính vùng đất, con người được đặt trong cùng một hành trình.

Đà Nẵng đặt mục tiêu đến năm 2030 khu vực phía Nam đón khoảng 1,5-2 triệu lượt khách, tốc độ tăng trưởng bình quân 18-20%/năm, thời gian lưu trú từ 1-2 đêm; tỷ lệ khách hài lòng đạt từ 85% và khách quay lại từ 30% trở lên. Những con số này cho thấy kỳ vọng lớn đối với một không gian du lịch mới. Nhưng với khu vực dựa nhiều vào tài nguyên tự nhiên, văn hóa và cộng đồng, câu hỏi quan trọng không chỉ là đón bao nhiêu khách. Câu hỏi lớn hơn là mỗi du khách để lại bao nhiêu giá trị và lấy đi bao nhiêu tài nguyên. Nếu khách tăng nhưng rác thải tăng nhanh hơn, cảnh quan bị tổn thương, di tích xuống cấp, không gian làng quê bị thương mại hóa và người dân không có thêm sinh kế tương xứng, tăng trưởng du lịch sẽ khó tạo ra giá trị lâu dài... Vậy chính quyền cần nhìn nhận để tạo ra sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường bền vững...

 

Thanh Loan