news
Định mức cho công nghệ viễn thám trong khai thác mỏ lộ thiên
Xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong giám sát bằng công nghệ viễn thám trong khai thác mỏ lộ thiên

Định mức cho công nghệ viễn thám trong khai thác mỏ lộ thiên

Thứ ba, 13/10/2026, 07:19 (GMT+7)
logo Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 41/2026/TT-BNNMT về định mức kinh tế - kỹ thuật giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên. Thông tư có hiệu lực từ ngày 10 tháng 11 năm 2026.

Đối tượng áp dụng

Định mức kinh tế - kỹ thuật giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên áp dụng cho các công việc: Thu thập tài liệu; xử lý dữ liệu ảnh viễn thám; chiết xuất thông tin các nội dung giám sát; biên tập thông tin, dữ liệu; phân tích, tổng hợp, xác định vị trí, phạm vi các nội dung giám sát; lập báo cáo kết quả giám sát.

Định mức kinh tế - kỹ thuật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên và được sử dụng để tính đơn giá sản phẩm, làm căn cứ lập dự toán và quyết toán giá trị sản phẩm hoàn thành của các dự án, công trình và nhiệm vụ về giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên.

Định mức lao động là hao phí thời gian cần thiết của lao động kỹ thuật để sản xuất một sản phẩm, thực hiện một bước công việc hoặc một công việc cụ thể, bao gồm cả thời gian nghỉ được hưởng nguyên lương theo quy định của pháp luật hiện hành.

Định mức kinh tế - kỹ thuật được xây dựng bằng phương pháp tổng hợp, bao gồm: Phương pháp thống kê, tổng hợp: là phương pháp xây dựng định mức dựa vào các tài liệu thu thập (khảo sát, chụp ảnh, bấm giờ và các phương pháp khác tương tự) về hao phí thời gian lao động, hao phí vật liệu và thời gian sử dụng các loại dụng cụ, thiết bị thực tế để hoàn thành công việc, sản phẩm cần xây dựng mức; phương pháp so sánh: là phương pháp xây dựng định mức dựa vào các định mức của công việc, sản phẩm tương đồng đã thực hiện trong thực tế; phương pháp kinh nghiệm: là phương pháp xây dựng định mức dựa vào kinh nghiệm tích lũy được của cán bộ xây dựng định mức hoặc công nhân kỹ thuật đã thực hiện trong thực tế; phương pháp phân tích: là phương pháp xây dựng định mức dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn để phân tích từng nội dung công việc, các yếu tố tác động và hao phí cần thiết của từng công đoạn trong chu trình tạo ra sản phẩm (bao gồm: phân tích khảo sát, phân tích tính toán); phương pháp tiêu chuẩn: là căn cứ vào những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước về thời gian lao động, chế độ nghỉ ngơi để xây dựng định mức lao động cho từng công việc.

Phân loại khó khăn

Định mức phân loại khó khăn cho một số công việc như: Xử lý dữ liệu ảnh viễn thám. Công việc này phân thành 3 loại khó khăn

Loại 1 là vùng đồng bằng hoặc đồi núi thấp tác động của địa hình đối với độ chính xác nắn chỉnh hình học không lớn. Khu vực thi công có nhiều đối tượng, địa vật có hình ảnh rõ nét dễ xét đoán và xác định điểm khống chế ảnh. Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng đồng nhất, chất lượng hình ảnh tốt, khối lượng cắt, ghép ảnh nhỏ;

Loại 2 là vùng trung du hoặc vùng đồi núi xen kẽ, địa hình có tác động đáng kể tới độ chính xác nắn chỉnh hình học. Thực phủ tương đối dày, số lượng đối tượng địa vật có hình ảnh rõ nét không nhiều, việc xét đoán và xác định điểm khống chế ảnh có khó khăn nhất định. Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng đồng nhất, chất lượng hình ảnh tốt, khối lượng cắt, ghép ảnh không lớn;

Loại 3 là vùng núi, núi cao, địa hình có tác động lớn tới độ chính xác nắn chỉnh hình học; trong khu vực thi công ít đối tượng, địa vật có hình ảnh rõ nét, việc xác định điểm khống chế ảnh gặp nhiều khó khăn. Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng không đồng nhất, khối lượng cắt, ghép ảnh lớn.

Với công việc chiết xuất thông tin các nội dung giám sát, khó khăn cũng được phân thành 3 loại. Loại 1 là vùng mỏ ở khu vực đồng bằng, địa vật, địa hình bằng phẳng; vùng đồi núi thấp dễ tiếp cận, thực phủ đơn giản, địa hình không bị cắt xẻ. Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng có chất lượng tốt, hình ảnh rõ nét, ít bị ảnh hưởng của mây, bóng đổ hoặc thực phủ che khuất. Đối tượng giám sát đồng nhất, ranh giới rõ ràng, dễ giải đoán và dễ nhận biết trên ảnh, số lượng đối tượng cần giải đoán, phân loại ít, không nhiều loại khoáng sản khai thác có đặc thù khác nhau, mức độ cập nhật vừa phải, khối lượng điều tra ngoại nghiệp nhỏ.

Loại 2 là vùng mỏ ở đồng bằng, trung du có thực phủ tương đối dày, có tầm che khuất; vùng đồi núi xen kẽ. Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng có chất lượng tốt, nhưng tồn tại một số ảnh hưởng của mây, bóng đổ, thực phủ che khuất. Đối tượng giám sát không đồng nhất, việc giải đoán và nhận biết trên ảnh tại một vài khu vực có khó khăn, số lượng đối tượng cần giải đoán, phân loại ở mức trung bình, không nhiều loại khoáng sản khai thác có đặc thù khác nhau ít, mức độ cập nhật lớn, khối lượng điều tra ngoại nghiệp ở mức trung bình.

Loại 3 là vùng mỏ ở khu vực đồi, núi thực phủ dày, rừng, cây cao, che khuất; các mỏ lộ thiên bị địa vật phức tạp che khuất. Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng không đồng đều, chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiễu, bóng đổ địa hình, thực phủ che khuất. Đối tượng giám sát có cấu trúc, phân bố phức tạp, không đồng nhất hoặc đa dạng với nhiều loại khoáng sản khai thác có đặc thù khác nhau, việc giải đoán và nhận biết trên ảnh có khó khăn, số lượng đối tượng cần giải đoán, phân loại tương đối lớn, mức độ cập nhật và khối lượng điều tra ngoại nghiệp tương đối lớn.

Hương Trà
Biên tập viên
Nguồn: Thông tư số 41/2026/TT-BNNMT về định mức kinh tế - kỹ thuật giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên