Cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đang tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý lĩnh vực chăn nuôi, thú y. Cùng với cải cách thể chế, yêu cầu quản lý thuốc thú y, sử dụng kháng sinh và công bố thức ăn chăn nuôi cũng được đặt ra theo hướng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất.
Nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tháo gỡ các điểm nghẽn, Cục Chăn nuôi và Thú y đã rà soát, đề xuất bãi bỏ, phân cấp, phân quyền nhiều thủ tục. Từ 97 thủ tục hành chính, lĩnh vực chăn nuôi và thú y hiện còn 79 thủ tục, gồm 53 thủ tục cấp Bộ và 26 thủ tục thực hiện tại địa phương.

Chuyển đổi số tiếp tục là một điểm nhấn trong quá trình cải cách. Có 85,35% hồ sơ được tiếp nhận, giải quyết thông qua Hệ thống Một cửa quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của ngành; 100% kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa và trả kết quả điện tử. Trong 29 thủ tục, 15 thủ tục đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến, 14 thủ tục được thực hiện một phần.
Cùng với cắt giảm thủ tục, ngành đã loại bỏ 30 điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, tăng cường phân cấp, phân quyền. Trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, chỉ còn 4 thủ tục được phân cấp cho địa phương; Cục Chăn nuôi và Thú y tập trung đánh giá điều kiện cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu.
Đối với thuốc thú y, 33 thủ tục được bãi bỏ, trong đó có quy định về công bố hợp quy; 15 thủ tục được phân cấp về địa phương. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý nặng về tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm, gắn trách nhiệm quản lý với doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, quá trình cải cách được triển khai trong hơn một năm nhằm đáp ứng yêu cầu về tiến độ của Chính phủ. Thời gian tới, Cục tiếp tục tổ chức phổ biến pháp luật, đối thoại với doanh nghiệp và hoàn thiện thể chế, qua đó nâng cao tính minh bạch, đồng bộ và hiệu quả quản lý.
Đi cùng cải cách thủ tục là yêu cầu nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi sản xuất. Khi chuyển sang hậu kiểm, doanh nghiệp không chỉ được hưởng lợi từ thủ tục đơn giản hơn mà phải chủ động tuân thủ pháp luật, bảo đảm chất lượng và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm đưa ra thị trường.
Cải cách thể chế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng với kiểm soát chất lượng và an toàn sản phẩm. Trong đó, quản lý thuốc thú y và sử dụng kháng sinh là những nội dung được đặt ra với yêu cầu ngày càng cao.
Theo hướng dẫn của Cục Chăn nuôi và Thú y, quản lý kháng sinh không dừng ở việc lựa chọn thuốc mà phải kiểm soát xuyên suốt từ chẩn đoán, kê đơn, bán thuốc, sử dụng đến ghi chép và giám sát. Nguyên tắc quan trọng là không sử dụng kháng sinh để kích thích tăng trưởng; việc điều trị phải có căn cứ chẩn đoán và sử dụng đúng thuốc, đúng liều, đúng liệu trình.
Đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, phòng bệnh cần dựa trên an toàn sinh học, vaccine và quản lý đàn. Khi phải điều trị, thuốc được sử dụng theo chỉ định, đồng thời, bảo đảm thời gian ngừng thuốc trước khi giết mổ. Với nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng kháng sinh còn gắn với điều kiện môi trường nước, ao, lồng nuôi và thời điểm thu hoạch. Cơ sở nuôi phải kiểm soát lượng thuốc, thời gian sử dụng, thời gian ngừng thuốc và lưu hồ sơ để phục vụ truy xuất khi cần thiết. Bên cạnh đó, quản lý kháng sinh không thể chỉ đặt trách nhiệm lên người chăn nuôi. Đây là trách nhiệm xuyên suốt từ phòng bệnh, chẩn đoán, kê đơn, bán thuốc đến sử dụng và giám sát. Kiểm soát tốt khâu này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc hạn chế kháng kháng sinh và tồn dư thuốc trong sản phẩm chăn nuôi.
Trong quản lý thuốc thú y, văn bản hợp nhất số 60/VBHN-BNNMT quy định tương đối toàn diện các hoạt động từ đăng ký lưu hành, khảo nghiệm, sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu đến kiểm nghiệm, kiểm tra chất lượng, thu hồi và tiêu hủy thuốc thú y.
Dự thảo Thông tư mới về quản lý thuốc thú y tiếp tục được xây dựng theo hướng chuẩn hóa và phân loại hồ sơ dựa trên mức độ rủi ro. Những nhóm có nguy cơ cao như vaccine, chế phẩm sinh học kháng thể và dược phẩm chứa kháng sinh được yêu cầu hồ sơ chặt chẽ hơn; trong khi một số nhóm khác được đơn giản hóa hồ sơ, giảm các giấy tờ trùng lặp.
Một số thời hạn xử lý hồ sơ cũng được rút ngắn. Thời gian thông báo hồ sơ chưa đạt được đề xuất giảm từ 10 ngày xuống 7 ngày. Hồ sơ khảo nghiệm, nhập khẩu, kiểm nghiệm và kiểm tra chất lượng được phân định rõ hơn về yêu cầu, thẩm quyền và trách nhiệm.
Dự thảo cũng cập nhật quy định về ghi nhãn, trong đó có nhãn điện tử; làm rõ danh mục thuốc cấm sử dụng; đồng thời quy định việc kê đơn và lưu trữ đơn thuốc điện tử. Đáng chú ý, việc sản phẩm không nằm trong danh mục thuốc cấm không đồng nghĩa với việc được tự động lưu hành mà vẫn phải đáp ứng các căn cứ về đăng ký và quản lý sản phẩm.
Những thay đổi này cho thấy, xu hướng quản lý đang chuyển từ việc kiểm soát bằng số lượng thủ tục sang kiểm soát dựa trên rủi ro, tiêu chuẩn kỹ thuật và trách nhiệm của các chủ thể. Mục tiêu không chỉ là giảm thủ tục mà còn bảo đảm việc đơn giản hóa không làm suy giảm yêu cầu về an toàn và chất lượng.
Minh bạch thông tin trong công bố thức ăn chăn nuôi
Cùng với thuốc thú y, việc công bố thức ăn chăn nuôi cũng đòi hỏi doanh nghiệp tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về thông tin và chất lượng sản phẩm.
Theo ông Nguyễn Sức Mạnh, chuyên viên Phòng Thuốc thú y và Thức ăn chăn nuôi, Cục Chăn nuôi và Thú y, thông tin công bố phải trung thực, chính xác, rõ ràng và phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Hành vi quảng cáo không trung thực hoặc gây hiểu nhầm về tính năng, chất lượng, công dụng sản phẩm có thể bị phạt từ 20-40 triệu đồng, đồng thời, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Doanh nghiệp cũng cần bảo đảm sự thống nhất giữa sản phẩm thực tế với hồ sơ công bố, từ tên, địa chỉ nhà sản xuất đến thành phần, chỉ tiêu chất lượng, CFS, ISO, GMP và kết quả thử nghiệm.
Đối với thành phần nguyên liệu, thông tin phải thể hiện cụ thể bản chất nguyên liệu và tên vi sinh vật, thay vì chỉ ghi chung chung. Các chỉ tiêu vitamin, axit amin phải được xác định đúng theo hàm lượng của từng chất; kết quả phân tích cũng phải thể hiện rõ chỉ tiêu và đơn vị đo phù hợp. Đặc biệt, hồ sơ CFS phải thể hiện đầy đủ cơ quan cấp, số và ngày cấp, tên sản phẩm, nhà sản xuất, tình trạng được phép lưu hành tại nước sản xuất hoặc nước cấp CFS, cùng chữ ký và dấu của cơ quan có thẩm quyền.
Từ cải cách thủ tục hành chính đến quản lý thuốc thú y, kháng sinh và thức ăn chăn nuôi, điểm chung là chuyển mạnh sang quản lý dựa trên trách nhiệm, mức độ rủi ro và dữ liệu. Khi thủ tục được rút gọn nhưng tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất và hậu kiểm được tăng cường, môi trường kinh doanh có thêm dư địa thông thoáng, đồng thời yêu cầu tuân thủ đối với doanh nghiệp và cơ sở sản xuất cũng rõ ràng hơn. Đây là nền tảng quan trọng để lĩnh vực chăn nuôi, thú y nâng cao tính chuyên nghiệp, bảo đảm an toàn sản phẩm và hướng tới phát triển bền vững.