Quản lý chăn nuôi động vật khác và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi: Hoàn thiện hành lang pháp lý từ cơ sở đến dữ liệu số

Quản lý chăn nuôi động vật khác và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi: Hoàn thiện hành lang pháp lý từ cơ sở đến dữ liệu số

Chủ nhật, 28/6/2026, 07:03 (GMT+7)
logo Văn bản hợp nhất số 70/VBHN-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hệ thống hóa các quy định về chăn nuôi động vật khác thuộc Danh mục động vật khác được phép chăn nuôi và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi. Điểm đáng chú ý là văn bản vừa đặt ra yêu cầu quản lý đối với một số đối tượng chăn nuôi đặc thù như giun quế, ruồi lính đen, dế, bò cạp, vịt trời, dông, tằm; vừa chuẩn hóa cơ chế cấp mã số định danh cơ sở, mã số sản phẩm và vận hành dữ liệu truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số.

Văn bản hợp nhất số 70/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư số 66/2025/TT-BNNMT ngày 21/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về chăn nuôi động vật khác thuộc Danh mục động vật khác được phép chăn nuôi và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT ngày 19/5/2026 về phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang mở rộng theo hướng đa dạng hóa đối tượng vật nuôi, phát triển kinh tế tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và nâng cao yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng, văn bản này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập chuẩn quản lý mới. Không chỉ dừng ở điều kiện chuồng trại hay nguồn gốc con giống, quy định còn đặt trọng tâm vào hồ sơ ghi chép, dữ liệu, mã số định danh và khả năng truy xuất từng lô, mẻ sản phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

2_1782202936.png
Mô hình chăn nuôi hiện đại, kiểm soát quy trình sản xuất là nền tảng quan trọng để thực hiện truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn thực phẩm và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng. Ảnh minh họa.

Quản lý rõ danh mục động vật khác được phép chăn nuôi

Theo văn bản hợp nhất, Danh mục động vật khác được phép chăn nuôi gồm 7 nhóm đối tượng: giun quế, ruồi lính đen, dế, bò cạp, vịt trời, dông và tằm. Đây là những đối tượng có đặc điểm sinh học, phương thức nuôi và mục đích khai thác khác nhau, trong đó có những loài gắn với xử lý phụ phẩm hữu cơ, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, giống, kén tằm hoặc các sản phẩm chăn nuôi khác.

Văn bản quy định rõ “truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi” là hoạt động theo dõi, giám sát, xác định được một đơn vị sản phẩm chăn nuôi theo thời gian và địa điểm qua từng công đoạn của chuỗi cung ứng. Cùng với đó, các khái niệm như chất nền, vật mang dữ liệu truy xuất nguồn gốc, thiết bị có thể đọc được và dữ liệu truy xuất nguồn gốc cũng được giải thích cụ thể, tạo cơ sở cho việc tổ chức thực hiện thống nhất trong thực tế.

Đối với cơ sở chăn nuôi giun quế, ruồi lính đen, dế, bò cạp, văn bản yêu cầu phải có diện tích nuôi phù hợp, bảo đảm không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường. Khu vực nuôi phải có hàng rào bằng vật liệu phù hợp bao quanh; có chuồng nuôi, trang thiết bị chăn nuôi phù hợp với từng loại vật nuôi.

Một yêu cầu đáng chú ý là cơ sở phải có hồ sơ ghi chép quá trình hoạt động chăn nuôi, sử dụng thức ăn chăn nuôi và các dữ liệu khác để bảo đảm truy xuất nguồn gốc. Hồ sơ này phải được lưu trữ trong thời gian tối thiểu 01 năm sau khi kết thúc chu kỳ nuôi. Quy định này cho thấy quản lý chăn nuôi không chỉ dựa trên kiểm tra hiện trạng, mà chuyển dần sang quản lý bằng dữ liệu, lịch sử sản xuất và khả năng chứng minh nguồn gốc.

Văn bản cũng quy định không sử dụng phân, xác động vật mắc bệnh làm chất nền cho chăn nuôi giun quế, dế, bò cạp, ruồi lính đen trong trường hợp sản phẩm phục vụ mục đích làm thực phẩm, chế biến cho con người hoặc làm thức ăn chăn nuôi. Đây là yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và kiểm soát nguy cơ lây lan dịch bệnh trong chuỗi sản xuất.

Đối với ruồi lính đen và bò cạp nuôi vì mục đích thương mại, tổ chức, cá nhân phải thông báo phương án chăn nuôi, phương án quản lý và kiểm soát nguy cơ rủi ro trong hoạt động chăn nuôi với cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao thực hiện thủ tục hành chính có trách nhiệm tiếp nhận thông báo bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận thông báo, cơ quan này phải công khai phương án chăn nuôi, phương án quản lý và kiểm soát nguy cơ rủi ro trên Cổng thông tin điện tử.

Đối với vịt trời và dông, tổ chức, cá nhân chỉ được nuôi khi có nguồn gốc hợp pháp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nguồn gốc của vật nuôi. Cơ sở nuôi phải có chuồng nuôi phù hợp với tập tính sinh học, an toàn cho con người, vật nuôi khác, bảo đảm an toàn sinh học và an toàn thực phẩm. Đồng thời, cơ sở phải lập sổ, ghi chép theo dõi và lưu trữ thông tin trong quá trình chăn nuôi để phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Đối với tằm, hoạt động sản xuất, mua bán giống tằm, khảo nghiệm, kiểm định giống tằm mới thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật Chăn nuôi. Trường hợp giống tằm được tạo ra bằng công nghệ biến đổi gen hoặc giống tằm, nguồn gen tằm biến đổi gen nhập khẩu thì phải tuân thủ quy định của pháp luật về đa dạng sinh học.

3_1782203241.png
Cấp mã định danh sản phẩm giúp chuẩn hóa thông tin, phục vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và tăng tính minh bạch đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường.
                                                                                 Ảnh minh họa.

Cấp mã số định danh cơ sở, mã số sản phẩm trên hệ thống dữ liệu quốc gia

Một nội dung quan trọng của văn bản là quy định về quản lý mã số cơ sở chăn nuôi. Chủ cơ sở chăn nuôi thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi theo mẫu quy định và lập tài khoản để đăng nhập Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi tại địa chỉ csdlchannuoi.mae.gov.vn.

Thông tin lập tài khoản gồm tên đăng nhập là mã số doanh nghiệp, mã số thuế, số định danh hoặc số căn cước công dân của chủ cơ sở chăn nuôi. Sau khi lập tài khoản, cơ sở thực hiện kê khai theo biểu mẫu trên Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Việc kê khai áp dụng đối với tất cả cơ sở chăn nuôi thuộc đối tượng phải kê khai chăn nuôi.

Văn bản cũng khuyến khích các cơ sở hoạt động chăn nuôi khác thực hiện kê khai để đăng ký truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi. Nhóm này gồm cơ sở chăn nuôi không thuộc đối tượng bắt buộc phải kê khai, cơ sở thu gom, giết mổ, pha lóc, sơ chế, chế biến, kinh doanh sản phẩm chăn nuôi và các cơ sở kinh doanh chăn nuôi khác. Đây là cách tiếp cận mở, tạo điều kiện để nhiều chủ thể trong chuỗi cung ứng tham gia hệ thống dữ liệu chung.

Đối với trường hợp kê khai hoạt động chăn nuôi thuộc diện bắt buộc, Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi tự động cấp mã số định danh cho cơ sở ngay khi hoàn thành kê khai. Đối với các trường hợp được khuyến khích kê khai để truy xuất nguồn gốc, Hệ thống tự động cấp mã số định danh trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi hoàn thành kê khai, trên cơ sở kiểm tra, đối chiếu và xác nhận thông tin của cơ quan quản lý nhà nước về chăn nuôi và thú y được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao thực hiện thủ tục hành chính.

Mã số do Hệ thống cấp được thông báo trên tài khoản và gửi đến thư điện tử của tổ chức, cá nhân. Trường hợp từ chối cấp, cơ quan có thẩm quyền phải nêu rõ lý do. Văn bản cũng quy định cấu trúc mã số định danh cơ sở chăn nuôi theo hệ thống phân định địa điểm toàn cầu GS1, gắn với mã quốc gia Việt Nam, số định danh do GS1 Việt Nam cấp cho Cục Chăn nuôi và Thú y, mã cơ sở, mã loại hình cơ sở và mã đối tượng vật nuôi.

Cùng với mã số cơ sở, văn bản quy định quản lý mã số sản phẩm chăn nuôi. Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm chăn nuôi được khuyến khích thiết lập hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc và kê khai trên Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi để được cấp mã số sản phẩm chăn nuôi.

Tổ chức, cá nhân đã được cấp mã số định danh cơ sở chăn nuôi, nếu có nhu cầu cấp mã số sản phẩm, sẽ đăng nhập Hệ thống và thực hiện kê khai. Sau khi nhận đầy đủ thông tin, Hệ thống tự động cấp mã số sản phẩm chăn nuôi cho cơ sở sản xuất, kinh doanh. Mã số sản phẩm cũng được thông báo trên tài khoản và gửi đến thư điện tử của tổ chức, cá nhân; nếu từ chối cấp thì phải nêu rõ lý do.

Văn bản đồng thời quy định các trường hợp thu hồi mã số định danh cơ sở chăn nuôi và mã số sản phẩm chăn nuôi. Đối với mã số cơ sở, Hệ thống tự động thu hồi khi tổ chức, cá nhân thông báo ngừng sử dụng mã số hoặc khi cơ sở không đáp ứng điều kiện chăn nuôi theo quy định, kết quả kiểm tra, giám sát có thông tin không đúng với thông tin trên Hệ thống. Trong thời hạn 06 tháng kể từ thời điểm bị thu hồi mã số định danh cơ sở chăn nuôi, tổ chức, cá nhân có thể khắc phục và gửi báo cáo trên Hệ thống để được xem xét cấp lại.

Đối với mã số sản phẩm chăn nuôi, Hệ thống tự động thu hồi khi tổ chức, cá nhân thông báo ngừng sử dụng mã số; trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày gửi báo cáo khắc phục nhưng không khắc phục được lỗi kết quả kiểm tra, giám sát không đúng với thông tin trên Hệ thống; hoặc không lưu trữ hồ sơ theo quy định liên quan đến quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Những quy định này góp phần chuyển mạnh từ quản lý thủ công sang quản lý bằng dữ liệu, vừa tạo thuận lợi cho cơ sở chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh, vừa tăng khả năng kiểm tra, giám sát và xử lý sai lệch thông tin trong chuỗi sản phẩm.

Truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi: Từ khuyến khích đến chuẩn hóa dữ liệu

Văn bản hợp nhất quy định khuyến khích các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chăn nuôi thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi. Việc truy xuất nguồn gốc phải phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13274:2020 về hướng dẫn định dạng các mã dùng trong truy vết và TCVN 13275:2020 về định dạng vật mang dữ liệu.

Vật mang dữ liệu truy xuất nguồn gốc có thể được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên sản phẩm, bao bì, tài liệu kỹ thuật hoặc nhãn gắn trên sản phẩm ở vị trí dễ thấy, dễ đọc. Mỗi lô hoặc mẻ sản phẩm chăn nuôi được định danh đơn nhất bởi một mã truy xuất nguồn gốc, mã này được mã hóa trong vật mang dữ liệu.

Đối với cơ sở sản xuất sản phẩm chăn nuôi, khi thiết lập hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc, cơ sở phải ghi chép, lưu trữ và bảo đảm trích xuất, báo cáo được các thông tin về lô sản xuất. Các thông tin này gồm tên sản phẩm, số lô, số lượng hoặc khối lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hình ảnh nhận diện sản phẩm, các công đoạn trong sản xuất, kinh doanh, mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm, thời gian sự kiện truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn, quy chuẩn được áp dụng.

Cơ sở cũng phải lưu thông tin về số lượng sản phẩm đã xuất, còn tồn kho; danh sách tên, địa chỉ khách hàng, đại lý phân phối nếu có; số lượng sản phẩm đã nhập, đã bán và còn tồn. Đối với cơ sở kinh doanh sản phẩm chăn nuôi, yêu cầu ghi chép tập trung vào tên, địa chỉ cơ sở cung cấp sản phẩm; loại sản phẩm, số lượng nhập, bán, tồn kho; danh sách khách hàng, đại lý phân phối nếu có.

Dữ liệu truy xuất nguồn gốc của từng sản phẩm chăn nuôi trong hệ thống phải bao gồm tối thiểu các thông tin như tên sản phẩm, mã số sản phẩm, hình ảnh sản phẩm, tên và mã số đơn vị sản xuất, kinh doanh, địa chỉ đơn vị, các công đoạn trong sản xuất, kinh doanh, thời gian sản xuất, kinh doanh, mã truy xuất nguồn gốc, thương hiệu, nhãn hiệu, mã ký hiệu, số sê-ri nếu có, thời hạn sử dụng nếu có và các tiêu chuẩn, quy chuẩn được áp dụng.

Đối với người tiêu dùng, dữ liệu phục vụ tra cứu trên Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi gồm tối thiểu tên sản phẩm, hình ảnh sản phẩm, tên đơn vị sản xuất, kinh doanh, địa chỉ đơn vị, thời gian sản xuất, kinh doanh, thương hiệu, nhãn hiệu, mã ký hiệu, số sê-ri nếu có và thời hạn sử dụng nếu có. Người tiêu dùng có thể tra cứu thông tin bằng cách quét mã QR hoặc nhập mã truy xuất trên Cổng thông tin được công bố bởi Cục Chăn nuôi và Thú y hoặc thông qua phần mềm đọc mã số, mã vạch theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.

Văn bản cũng quy định thời gian lưu trữ dữ liệu truy xuất nguồn gốc. Đối với sản phẩm chăn nuôi không yêu cầu bắt buộc ghi hạn sử dụng, thời gian lưu trữ tối thiểu kể từ ngày sản xuất là 06 tháng đối với sản phẩm tươi sống và 24 tháng đối với sản phẩm đông lạnh, chế biến. Đối với sản phẩm phải ghi nhãn, thời gian lưu trữ tối thiểu là 12 tháng kể từ ngày hết hạn sử dụng của lô sản phẩm.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi phải được thiết kế theo tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc và quy định của pháp luật; có cơ chế tự động thu thập, lưu trữ, xử lý, đồng bộ hóa dữ liệu theo thời gian thực hoặc theo chu kỳ định kỳ; bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn và khả năng xác minh của thông tin. Hệ thống cũng phải có chức năng cảnh báo khi phát hiện dữ liệu không hợp lệ, tự động ghi nhận nhật ký hoạt động, hỗ trợ phân quyền truy cập, truy vết và phân tích lịch sử dữ liệu phục vụ kiểm tra, giám sát.

Rõ trách nhiệm quản lý, trách nhiệm cơ sở và lộ trình chuyển tiếp

Văn bản hợp nhất quy định Cục Chăn nuôi và Thú y có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố kiểm tra việc thực hiện; kịp thời phát hiện tồn tại, bất cập để đề xuất biện pháp xử lý. Cục cũng chủ trì xây dựng, tổ chức quản lý, vận hành Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi; triển khai, quản lý mã số định danh cơ sở chăn nuôi, mã số sản phẩm chăn nuôi; xây dựng, vận hành, quản trị hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi và kết nối dữ liệu với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Cục Chăn nuôi và Thú y còn có trách nhiệm xây dựng hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy trình thực hành chăn nuôi tốt, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình kỹ thuật chăn nuôi động vật khác trong Danh mục động vật khác được phép chăn nuôi, bảo đảm an toàn sinh học và an toàn thực phẩm. Đối với hoạt động chăn nuôi ruồi lính đen, bò cạp, Cục chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra, giám sát đột xuất hoặc định kỳ 2 năm/lần việc thực hiện phương án chăn nuôi, phương án quản lý và kiểm soát nguy cơ rủi ro.

Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức triển khai các nội dung quy định tại Thông tư; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện tại địa phương; phối hợp kiểm tra, giám sát hoạt động chăn nuôi ruồi lính đen, bò cạp; quản lý, kiểm tra và đề xuất xử lý vi phạm về kê khai chăn nuôi, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi tại địa phương. Hằng năm hoặc khi có yêu cầu đột xuất, Sở phải báo cáo kết quả kiểm tra hoạt động truy xuất nguồn gốc thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

Đối với tổ chức, cá nhân chăn nuôi, văn bản yêu cầu phải tuân thủ quy định quản lý chăn nuôi động vật khác; thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi bằng hình thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, qua môi trường mạng về Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc trên Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất của cơ quan quản lý nhà nước về chăn nuôi.

Đối với tổ chức, cá nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi, trách nhiệm không chỉ là thiết lập hệ thống dữ liệu, mà còn phải lưu trữ đầy đủ thông tin về lô, mẻ sản phẩm, nguồn gốc, xuất xứ, nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, kinh doanh. Khi tự phát hiện hoặc nhận được cảnh báo về sản phẩm chăn nuôi không bảo đảm an toàn, hoặc khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân phải thực hiện truy xuất nguồn gốc và gửi báo cáo kết quả về Cục Chăn nuôi và Thú y trong thời hạn 05 ngày làm việc. Trường hợp sản phẩm không bảo đảm an toàn, phải thu hồi, xử lý theo quy định của pháp luật và chịu mọi chi phí cho việc thu hồi, xử lý.

Về điều khoản chuyển tiếp, cơ sở chăn nuôi động vật khác vì mục đích thương mại đã xây dựng và hoạt động trước thời điểm Thông tư có hiệu lực nhưng chưa đáp ứng yêu cầu thì trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực phải hoàn thiện các yêu cầu theo quy định. Đối với tổ chức, cá nhân đã xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc trước ngày Thông tư có hiệu lực, trong thời hạn 12 tháng cũng phải rà soát, cập nhật và bổ sung các thông tin còn thiếu.

Có thể thấy, văn bản hợp nhất số 70/VBHN-BNNMT đã đặt nền tảng quản lý khá toàn diện đối với nhóm động vật khác được phép chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi cần truy xuất nguồn gốc. Từ điều kiện cơ sở, nguồn gốc vật nuôi, hồ sơ ghi chép, thông báo phương án chăn nuôi đến cấp mã số cơ sở, mã số sản phẩm và quản lý dữ liệu trên hệ thống quốc gia, các quy định đều hướng tới mục tiêu nâng cao minh bạch, an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và hiệu quả quản lý nhà nước.

Trong giai đoạn ngành chăn nuôi đang chuyển đổi theo hướng hiện đại, tuần hoàn và số hóa, việc chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp cơ quan quản lý giám sát tốt hơn, mà còn tạo thêm niềm tin cho người tiêu dùng, doanh nghiệp phân phối và thị trường xuất khẩu. Đây là bước đi cần thiết để sản phẩm chăn nuôi Việt Nam đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, an toàn và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng.

 

Hồng Minh