Đưa phúc lợi động vật từ yêu cầu thành giá trị của chăn nuôi

Đưa phúc lợi động vật từ yêu cầu thành giá trị của chăn nuôi

Thứ hai, 28/9/2026, 11:09 (GMT+7)
logo Phúc lợi động vật đang dần trở thành một tiêu chí quan trọng của nền chăn nuôi hiện đại, không chỉ liên quan đến cách chăm sóc vật nuôi mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe đàn vật nuôi, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh. Từ thực tiễn sản xuất trên địa bàn, tỉnh Bắc Ninh cho rằng, muốn phúc lợi động vật đi vào cuộc sống cần đưa nội dung này vào chính các chương trình chăn nuôi đang triển khai, đồng thời, tạo cơ chế để thị trường ghi nhận và trả giá cho những giá trị được tạo ra.

Từ thực tiễn sản xuất đến yêu cầu quản trị phúc lợi

Trước đây, chăn nuôi chủ yếu tập trung vào năng suất, sản lượng và kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của thị trường và yêu cầu xã hội, vật nuôi ngày càng được đặt trong một hệ thống tiêu chuẩn rộng hơn: Được chăm sóc phù hợp, hạn chế đau đớn và stress, được nuôi trong điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh học; đồng thời, sản phẩm phải bảo đảm an toàn, có nguồn gốc và thể hiện trách nhiệm của người sản xuất.

dong-vat_1790303257.jpg
Nhiều quốc gia đã chính thức công nhận động vật là sinh vật có khả năng cảm nhận đau đớn, căng thẳng và cảm xúc. Ảnh: VietStock

Với quy mô chăn nuôi lớn, Bắc Ninh nhìn nhận phúc lợi động vật không thể chỉ dừng ở một số mô hình riêng lẻ mà phải trở thành một cấu phần của chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Theo Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản TP. Bắc Ninh Nguyễn Thị Hồng Minh, hiện Bắc Ninh có khoảng 171.626 cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm; trên 1,15 triệu con lợn, 26,3 triệu con gia cầm, hơn 154 nghìn trâu, bò, ngựa và khoảng 38 nghìn con dê. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 400 nghìn tấn/năm. Với quy mô này, nếu phúc lợi động vật chỉ được áp dụng ở một bộ phận cơ sở thì tác động sẽ khó tạo ra sự thay đổi trên diện rộng.

Cách tiếp cận của Bắc Ninh là đưa phúc lợi động vật vào những chương trình mà người chăn nuôi đang thực hiện hằng ngày như an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh, VietGAHP, liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc, OCOP và phát triển sản phẩm hàng hóa. Từ đó, các yêu cầu về chăm sóc, sức khỏe, điều kiện chuồng nuôi, mật độ, thông thoáng, ánh sáng và hạn chế stress được lồng ghép vào quá trình tổ chức sản xuất.

Một kết quả đáng chú ý là khoảng 500 cơ sở chăn nuôi gà đẻ và khoảng 12 triệu gà thả đồi đang áp dụng các hình thức chăn nuôi không lồng hoặc bán chăn thả. Những mô hình này tạo điều kiện để vật nuôi thực hiện các hành vi tự nhiên như đi lại, đậu nghỉ, cào bới, làm ổ, qua đó góp phần hạn chế stress, nâng cao sức khỏe và chất lượng đàn vật nuôi.

Tuy nhiên, để chuyển từ những mô hình bước đầu sang diện rộng vẫn còn không ít điểm nghẽn. Người chăn nuôi có thể nhận thức được sự cần thiết của phúc lợi động vật nhưng để họ tự nguyện đầu tư và duy trì mô hình, yếu tố quyết định vẫn là hiệu quả kinh tế.

Việc chuyển đổi đòi hỏi chi phí cải tạo chuồng trại, thay đổi mật độ nuôi, đầu tư thông gió, chiếu sáng, làm mát, điều chỉnh phương thức chăm sóc, tăng cường quản lý sức khỏe đàn, ghi chép, truy xuất và tham gia đánh giá, chứng nhận. Trong khi đó, sản phẩm được sản xuất theo hướng bảo đảm phúc lợi động vật chưa phải lúc nào cũng có mức giá cao tương xứng. Khoảng cách giữa chi phí đầu tư và giá trị thị trường vì vậy trở thành một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình nhân rộng.

Cùng với bài toán kinh tế là khoảng trống về tiêu chí kỹ thuật. Pháp luật đã có các quy định liên quan đến đối xử nhân đạo, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý vật nuôi, nhưng từ thực tiễn quản lý địa phương vẫn còn khoảng cách giữa nguyên tắc pháp lý và những tiêu chí cụ thể có thể kiểm tra, đánh giá tại cơ sở.

Thực tế đặt ra hàng loạt câu hỏi: Mật độ nuôi bao nhiêu là phù hợp? Điều kiện ánh sáng, thông thoáng thế nào? Đánh giá tổn thương chân, mỏ, lông hoặc biểu hiện stress ra sao? Trong vận chuyển, thời gian, nhiệt độ, nước uống và thời gian nghỉ được kiểm soát thế nào? Trong giết mổ, đâu là yêu cầu đầy đủ về phúc lợi? Nếu chưa có tiêu chí thống nhất, việc kiểm tra, đánh giá, chứng nhận, truy xuất và tạo niềm tin cho người tiêu dùng đều gặp khó khăn.

Phải biến chi phí phúc lợi thành giá trị thị trường

Từ thực tiễn sản xuất, bà Nguyễn Thị Hồng Minh đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng rõ nguyên tắc, rõ trách nhiệm và rõ tiêu chí. Các quy định về phúc lợi động vật cần từng bước cụ thể hóa trong toàn bộ chuỗi, từ chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ, tiêu hủy đến nghiên cứu và các hoạt động liên quan; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của người chăn nuôi, cơ sở vận chuyển, cơ sở giết mổ, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Quan trọng hơn, cần sớm có hướng dẫn kỹ thuật theo từng nhóm vật nuôi, trước mắt có thể tập trung vào lợn, gà đẻ, gà thịt, bò sữa và bò thịt. Các tiêu chí phải có khả năng định lượng, kiểm tra như mật độ nuôi, nhiệt độ, độ ẩm, thông thoáng, ánh sáng, nước uống, chất lượng nền chuồng, khả năng vận động, biểu hiện sức khỏe và hành vi, tỷ lệ thương tích, tỷ lệ chết, điều kiện vận chuyển và phương pháp gây choáng, giết mổ. Đây là cơ sở để địa phương thống nhất cách hướng dẫn, đánh giá và nhân rộng mô hình.

Nhưng thể chế và tiêu chuẩn kỹ thuật chỉ là một nửa của bài toán. Phúc lợi động vật chỉ có thể phát triển bền vững khi tạo được động lực kinh tế cho người sản xuất. Nếu người chăn nuôi phải bỏ thêm chi phí nhưng thị trường không nhận diện được sự khác biệt của sản phẩm thì rất khó duy trì đầu tư.

Do đó, cần nghiên cứu cơ chế chứng nhận, nhận diện và truy xuất đối với sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn phúc lợi động vật. Khi người tiêu dùng có thể nhận biết sản phẩm, doanh nghiệp có cơ sở xây dựng thương hiệu và người chăn nuôi có khả năng thu hồi chi phí đầu tư, phúc lợi động vật sẽ không còn đơn thuần là một khoản chi phí mà trở thành một phần giá trị của sản phẩm.

Đối với các cơ sở nhỏ và vừa, nhất là nông hộ, quá trình chuyển đổi cũng cần được hỗ trợ. Việc cải tạo chuồng trại, đầu tư thiết bị, tập huấn, đánh giá, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và xây dựng mô hình trình diễn đều cần nguồn lực. Vì vậy, cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ phù hợp trong giai đoạn đầu, nhất là đối với những cơ sở tiên phong để hình thành các mô hình có thể chứng minh hiệu quả bằng thực tế sản xuất.

ga-bac-ninh_1790324708.jpg
Bắc Ninh cũng đề xuất được xây dựng một số mô hình thí điểm về phúc lợi động vật, trước mắt đối với gà đẻ và gà thịt. Ảnh minh họa

Bắc Ninh cũng đề xuất được xây dựng một số mô hình thí điểm về phúc lợi động vật, trước mắt đối với gà đẻ và gà thịt. Điểm quan trọng của mô hình không chỉ là đánh giá yêu cầu kỹ thuật mà phải trả lời được câu hỏi của người sản xuất: Đầu tư thêm bao nhiêu và hiệu quả tăng thêm như thế nào?

Theo đó, cần đánh giá đồng thời chi phí đầu tư với năng suất, tỷ lệ bệnh, tỷ lệ chết, mức sử dụng kháng sinh, chất lượng sản phẩm, giá bán và lợi nhuận. Nếu hiệu quả được chứng minh bằng số liệu thực tế, mô hình sẽ có sức thuyết phục và khả năng nhân rộng cao hơn so với tuyên truyền đơn thuần.

Từ góc nhìn của Bắc Ninh, phúc lợi động vật đang chuyển từ câu chuyện “đối xử nhân đạo với vật nuôi” sang quản trị phúc lợi trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Muốn quá trình này đi vào thực chất, cần đồng thời giải quyết ba vấn đề: Thể chế phải rõ để xác định thế nào là đạt; người chăn nuôi phải có động lực thông qua hiệu quả sản xuất và chính sách hỗ trợ phù hợp; còn thị trường phải có cơ chế nhận diện, truy xuất và trả giá cho những sản phẩm được sản xuất có trách nhiệm.

Với TP. Bắc Ninh, phúc lợi động vật vì thế không chỉ là câu chuyện về cách đối xử với vật nuôi mà còn gắn với mục tiêu xây dựng nền chăn nuôi có trách nhiệm, có giá trị và khả năng cạnh tranh. Việc tiếp tục hoàn thiện mô hình thực tiễn, đồng thời, đóng góp kinh nghiệm địa phương vào quá trình hoàn thiện thể chế, chính sách sẽ là cơ sở để phúc lợi động vật từng bước trở thành một tiêu chí thực chất của chăn nuôi hiện đại.

Phương Chi