Mã số vùng trồng sầu riêng: Từ cấp mã đến giữ uy tín

Mã số vùng trồng sầu riêng: Từ cấp mã đến giữ uy tín

Thứ tư, 16/9/2026, 16:43 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tháo gỡ nhiều vướng mắc trong cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, phân quyền mạnh hơn cho cấp xã và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Song với sầu riêng xuất khẩu, thủ tục thuận lợi hơn cũng đồng nghĩa trách nhiệm của người sản xuất, doanh nghiệp và cơ quan quản lý phải rõ hơn. Mã số chỉ có giá trị khi gắn với vùng trồng thực, sản lượng thực và có thể truy xuất đến từng lô hàng.

Ông Nguyễn Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Khánh Hòa cho biết, UBND tỉnh vừa có văn bản yêu cầu tăng cường thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với quả sầu riêng tươi xuất khẩu sang Trung Quốc.

Theo đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm đầu mối rà soát, xác thực, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, chủ thể quản lý, trạng thái hiệu lực, tình trạng được thị trường nhập khẩu công nhận và kết quả kiểm tra. Dữ liệu được cập nhật trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, không phát sinh thêm thủ tục hay yêu cầu khai báo trùng lặp.

nguyen-duc-thuan_1789367182.jpg
Ông Nguyễn Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Khánh Hòa.

Yêu cầu này được đặt ra trong lúc việc cấp và quản lý mã số vùng trồng đang có những thay đổi đáng kể sau khi Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ có hiệu lực.

Theo ông Thuận, điểm đáng chú ý của chính sách mới không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục. Quan trọng hơn là thay đổi cách quản lý: người dân, doanh nghiệp được chủ động hơn trong kê khai, trong khi cơ quan nhà nước tăng trách nhiệm hậu kiểm và quản lý việc sử dụng mã sau khi cấp.

Việc đơn giản hóa thủ tục tạo thuận lợi cho người sản xuất, nhất là những hộ có quy mô nhỏ. Nhưng cấp mã thuận lợi hơn không có nghĩa yêu cầu đối với vùng trồng hay yêu cầu của thị trường nhập khẩu được giảm xuống”, ông Thuận nói.

Trao quyền nhiều hơn cho cấp xã

Một trong những vướng mắc được Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tháo gỡ là quy định về diện tích tối thiểu của vùng trồng.

Trước đây, quy định diện tích tối thiểu 10ha cho cây lâu năm là "chốt chặn" khiến nhiều nông dân có diện tích nhỏ lẻ không thể tự đứng tên đăng ký mã số vùng trồng. Muốn có mã, họ buộc phải gom đất, liên kết gom đủ diện tích.

sau-rieng-khanh-son_1789367129.jpg
Khánh Hòa có 3.565,4ha sầu riêng, trong đó khoảng 2.500ha cho sản phẩm; sản lượng 8 tháng năm 2026 đạt khoảng 26.000 tấn.

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tạm ngưng quy định này. Mã số vùng trồng được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất, theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm hộ gia đình. Việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ cũng được đưa về UBND cấp xã, thực hiện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia theo nguyên tắc tự khai, tự chịu trách nhiệm.

Thời gian giải quyết được rút ngắn. Với trường hợp không đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu riêng về mã số, thời gian xử lý tối đa 3 ngày làm việc; trường hợp xuất khẩu sang thị trường yêu cầu mã số, thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc.

Theo ông Thuận, việc đưa thủ tục về xã giúp người dân giải quyết ngay tại địa bàn, giảm đi lại. Tuy nhiên, phần việc chuyển xuống cơ sở không chỉ là tiếp nhận một bộ hồ sơ.

Cấp xã sẽ trực tiếp tham gia từ giải quyết thủ tục đến quản lý, hậu kiểm mã số. Vì vậy, khi phân quyền thì năng lực của cán bộ cơ sở, khả năng nắm địa bàn và phối hợp với cơ quan chuyên môn rất quan trọng”, ông Thuận cho biết.

Để chuẩn bị cho thay đổi này, Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa đã tổ chức tập huấn về quản lý, giải quyết thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Hội nghị có 174 đại biểu thuộc 56/64 xã, phường tham dự. Ngành nông nghiệp cũng phối hợp với 59 xã, phường huy động lực lượng khuyến nông cấp xã, khuyến nông cộng đồng tham gia, làm lực lượng hỗ trợ triển khai tại cơ sở.

Đây cũng là một trong những vấn đề trọng tâm của Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP: chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thực hiện thủ tục toàn trình trên môi trường mạng và đặt tổ chức, cá nhân vào vị trí tự khai, tự chịu trách nhiệm. Việc cấp mã nhanh hơn vì thế phải đi cùng dữ liệu minh bạch và trách nhiệm rõ hơn.

sau-rieng-khanh-son-1_1789367129.jpg
Tại Khánh Hòa, riêng sầu riêng có 21 mã số vùng trồng xuất khẩu sang Trung Quốc, diện tích 635,26ha, sản lượng dự kiến năm 2026 khoảng 14.724 tấn.

Tại Khánh Hòa, sầu riêng hiện là một trong những cây trồng chịu tác động trực tiếp từ cách quản lý này. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, toàn tỉnh có 3.565,4ha sầu riêng, trong đó khoảng 2.500ha cho sản phẩm; sản lượng 8 tháng năm 2026 đạt khoảng 26.000 tấn.

Trước ngày 31/7, toàn tỉnh có 157 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 1.240ha, trong đó 52 mã phục vụ xuất khẩu. Riêng sầu riêng có 21 mã số vùng trồng xuất khẩu sang Trung Quốc, diện tích 635,26ha, sản lượng dự kiến năm 2026 khoảng 14.724 tấn. Đến hết tháng 7, sản lượng xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc đạt 8.140 tấn.

Từ đầu năm đến nay, Khánh Hòa tiếp nhận thêm 8 hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng với diện tích 107,8ha, trong đó có 6 vùng sầu riêng tại Khánh Sơn và Tây Khánh Sơn đăng ký cấp mới để xuất khẩu sang Trung Quốc. Các vùng đã được kiểm tra thực tế, đạt yêu cầu và chuyển hồ sơ thực hiện các bước tiếp theo theo quy định của thị trường nhập khẩu.

Hậu kiểm để mã số không chỉ nằm trên giấy

Nếu thủ tục đầu vào được rút gọn thì phần việc phía sau lại nặng hơn. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa, trong năm 2026, ngành chuyên môn đã thành lập 3 đoàn kiểm tra 2 cơ sở đóng gói sầu riêng và 34 vùng trồng sầu riêng, bưởi, xoài Úc, lúa có mã số phục vụ xuất khẩu.

Kết quả, 2 cơ sở đóng gói và 24 vùng đủ điều kiện duy trì mã số; 9 vùng đề nghị hủy, một vùng không đáp ứng yêu cầu đã bị thu hồi mã. Riêng 23 vùng trồng sầu riêng có mã đi thị trường Trung Quốc được kiểm tra, 20 vùng đủ điều kiện tiếp tục duy trì và 3 vùng đề nghị hủy mã.

Mã số không phải cấp một lần rồi để đó. Vùng trồng phải tiếp tục duy trì các điều kiện đã cam kết. Qua kiểm tra, nếu không còn đáp ứng thì phải khắc phục, tạm dừng hoặc thu hồi theo quy định”, ông Thuận cho biết.

Thực tế cảnh báo từ thị trường nhập khẩu càng cho thấy yêu cầu này. Sau khi nhận thông báo vi phạm kiểm dịch thực vật đối với 4 vùng trồng và một cơ sở đóng gói, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã yêu cầu các đơn vị khắc phục và tổ chức kiểm tra lại. Kết quả, một mã cơ sở đóng gói và một mã vùng trồng sầu riêng đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu được khôi phục; một mã vùng trồng bị thu hồi. Hai vùng còn lại không có báo cáo khắc phục và đề nghị hủy mã.

Những trường hợp này cho thấy hậu kiểm không phải một thủ tục bổ sung sau cấp mã. Trong cách quản lý mới, đây là khâu quyết định mã số có được duy trì thực chất hay không.

Mã số vùng trồng cũng không đồng nghĩa với chứng nhận chất lượng sản phẩm và không thay thế các nghĩa vụ của người sản xuất trước yêu cầu của nước nhập khẩu. Đây là điểm được đặt ra ngay trong kế hoạch tuyên truyền Nghị quyết số 36.

ma-so-vung-trong-sau-rieng-1_1789367127.jpg
Mã số vùng trồng cũng không đồng nghĩa với chứng nhận chất lượng sản phẩm và không thay thế các nghĩa vụ của người sản xuất trước yêu cầu của nước nhập khẩu.

Theo ông Thuận, thách thức ở cơ sở là thói quen sản xuất chưa đồng đều. Việc ghi chép nhật ký canh tác, sử dụng vật tư nông nghiệp, duy trì hồ sơ hay cập nhật dữ liệu ở một bộ phận người dân cần tiếp tục được hướng dẫn. Vì vậy, cùng với cấp mã, ngành chuyên môn phải hỗ trợ chuẩn hóa vùng nguyên liệu và liên kết người trồng với doanh nghiệp thu mua, đóng gói.

Mục tiêu không nên chỉ tính bằng số lượng mã được cấp. Quan trọng là sau khi có mã, vùng trồng vẫn sản xuất đúng yêu cầu và mã số được sử dụng đúng cho sản phẩm của chính vùng đó”, ông Thuận nói.

Truy xuất đến từng lô sầu riêng

Nếu hậu kiểm bảo đảm vùng trồng tiếp tục đáp ứng điều kiện, thì truy xuất nguồn gốc lại là cách để kiểm chứng sản phẩm thực tế có đúng với mã số hay không.

Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Khánh Hòa cho biết, văn bản mới của UBND tỉnh Khánh Hòa yêu cầu mỗi lô sầu riêng tươi xuất khẩu sang Trung Quốc phải có hồ sơ, dữ liệu đầy đủ, chính xác, liên tục và truy xuất ngược được đến vùng trồng, cơ sở đóng gói cũng như các chủ thể, công đoạn có liên quan.

Thông tin tối thiểu phải có mã số và trạng thái hiệu lực của vùng trồng, cơ sở đóng gói; nhật ký trồng trọt; thông tin về sản xuất, thu hoạch, thu mua, vận chuyển, bảo quản, đóng gói; khối lượng; kết quả thử nghiệm; giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật; container, niêm phong, doanh nghiệp xuất khẩu và thị trường nhập khẩu.

Theo ông Thuận, yêu cầu này nhằm bảo đảm một mã số luôn đi cùng sản phẩm có nguồn gốc xác định.

“Truy xuất nguồn gốc nông sản là khả năng theo dõi, ghi nhận toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và phân phối sản phẩm từ cơ sở sản xuất đến tay người tiêu dùng. Nếu mã số chỉ tồn tại trên giấy nhưng không đối chiếu được với thực tế thì rất khó bảo đảm tính minh bạch của chuỗi”, ông Thuận trao đổi.

Việc ủy quyền sử dụng mã cũng được đặt dưới sự quản lý chặt hơn. Đến thời điểm báo cáo, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã tiếp nhận 11 thông báo của các tổ chức, cá nhân về việc ủy quyền sử dụng mã số sầu riêng cho các đơn vị xuất khẩu.

sau-rieng_1789367130.jpg
Với sầu riêng xuất khẩu, một dãy mã số không tự tạo ra uy tín thị trường.

UBND tỉnh đồng thời yêu cầu các địa phương kiểm tra việc sử dụng mã số, kịp thời phát hiện tình trạng mạo danh, gian lận hoặc sử dụng sai mục đích. Công an tỉnh được giao nắm tình hình hoạt động cấp, quản lý và sử dụng mã số, phát hiện các dấu hiệu xác nhận khống sản lượng, sử dụng trái phép, mạo danh mã số hoặc hợp thức hóa nguồn gốc xuất xứ.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với sầu riêng. Khi lượng hàng mang mã của một vùng vượt quá khả năng sản xuất thực tế, hoặc nguyên liệu từ bên ngoài được đưa vào dưới mã của vùng khác, chuỗi truy xuất sẽ bị phá vỡ. Hệ quả không chỉ dừng ở một lô hàng bị cảnh báo mà có thể ảnh hưởng tới vùng trồng, cơ sở đóng gói và khả năng tiếp cận thị trường của các chủ thể khác.

Từ thực tiễn triển khai, Khánh Hòa cũng kiến nghị tiếp tục hoàn thiện và kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về mã số vùng trồng; bổ sung danh mục mã định danh cây trồng và hướng dẫn cụ thể hơn về quy tắc đặt mã, ủy quyền sử dụng mã. Hiện tỉnh còn 26 mã số vùng trồng của 7 loại cây chưa thể hoàn thành thủ tục do chưa có mã định danh tương ứng.

Nghị quyết số 36 đã mở rộng quyền chủ động cho người sản xuất và đưa thủ tục hành chính về gần vùng trồng hơn. Nhưng cùng với đó, việc duy trì điều kiện sản xuất, sự trung thực của dữ liệu và trách nhiệm quản lý sau cấp mã trở nên quan trọng hơn.

Với sầu riêng xuất khẩu, một dãy mã số không tự tạo ra uy tín thị trường. Uy tín chỉ được hình thành khi phía sau mã số là vùng nguyên liệu có thật, sản lượng có thật, quy trình được duy trì và dữ liệu đủ để truy ngược khi cần.

Từ đó, câu chuyện mã số vùng trồng cũng dịch chuyển dần từ việc “được cấp hay chưa” sang “được sử dụng và duy trì như thế nào”. Đó mới là phần quyết định để mã số vùng trồng trở thành nền tảng cho xuất khẩu sầu riêng bền vững.

Trung Nhân