Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và thích ứng với biến đổi khí hậu, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Thái Bình (Công ty) đang từng bước hiện đại hóa công tác quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi. Cùng với duy tu, nâng cấp công trình, đơn vị chú trọng kiểm soát nguồn nước, giải phóng dòng chảy và ứng dụng chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, điều tiết nguồn nước.
Hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình nằm trong phạm vi giới hạn bởi sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, sông Hóa và Biển Đông, gồm các huyện: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy và phần phía Bắc của thành phố Thái Bình cũ (hiện nay sau khi sắp xếp lại chính quyền 2 cấp bao gồm 37 xã thuộc tỉnh Hưng Yên) với nhiệm vụ tưới tiêu, cải tạo đồng ruộng phục vụ cho nông nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp và kinh tế dân sinh (tổng diện tích tự nhiên hơn 85.800 ha, trong đó diện tích canh tác khoảng 56.000 ha).
Hiện, Công ty quản lý 366 cống, đập, gồm 91 cống qua đê và 275 cống, đập nội đồng; 227 tuyến kênh với tổng chiều dài gần 997 km; cùng 41 trạm bơm điện phục vụ tưới, tiêu và tưới - tiêu kết hợp. Đây là hệ thống công trình có quy mô lớn, giữ vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước trên địa bàn.
Tuy nhiên, nhiều công trình được xây dựng từ 30-50 năm trước nên đã xuống cấp, không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu sản xuất hiện nay. Một số công trình đầu mối, tuyến kênh cần được cải tạo, nâng cấp, nạo vét, gia cố để tăng khả năng dẫn, tiêu và trữ nước, nhất là trong điều kiện thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp.
Theo ông Đỗ Thanh Tùng, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Thái Bình, một số công trình như Trạm bơm Thái Học, Trạm bơm Cống Lấp, Trạm bơm Cao Nội, Cống Tân Bồi I, Cống Diêm Tỉnh, Cống Tân Bồi II, Cống Hồng Quỳnh I, II... đã có dấu hiệu xuống cấp, cần được đầu tư sửa chữa. Nhiều tuyến kênh như Tiên Hưng, Sa Lung, Hoài, Hoàng Nguyên còn những đoạn nông cạn, cần nạo vét, gia cố nhằm bảo đảm năng lực dẫn nước.
Đặc biệt, các cống dưới đê trực diện với biển phải thường xuyên ứng phó với triều cường, xâm nhập mặn và những diễn biến bất thường của thời tiết. Vì vậy, việc đầu tư nâng cấp công trình không chỉ phục vụ sản xuất mà còn góp phần bảo đảm an toàn phòng, chống thiên tai.
Quy mô Hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình, gồm: 366 cống, đập, gồm 91 cống qua đê và 275 cống nội đồng; 227 tuyến kênh, tổng chiều dài 996,9 km; 41 trạm bơm điện phục vụ tưới, tiêu và tưới - tiêu kết hợp.
Cùng với những bất cập về hạ tầng, chất lượng nguồn nước đang là vấn đề được Công ty đặc biệt quan tâm. Một số tuyến kênh tiếp nhận nước thải sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi và làng nghề; tình trạng người dân vứt rác xuống kênh, nhất là tại khu vực kênh đi qua khu dân cư, vẫn còn xảy ra.
Để hạn chế nguy cơ ô nhiễm, Công ty tăng cường phối hợp với các cơ quan chuyên môn kiểm tra, đánh giá ảnh hưởng của hoạt động xả thải đối với hệ thống công trình thủy lợi. Cán bộ, công nhân quản lý tuyến kênh thường xuyên kiểm tra các điểm xả, kịp thời phát hiện, nhắc nhở và tuyên truyền các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định về xả thải.
Đối với rác thải nhằm làm trong sạch các tuyến kênh thuỷ lợi và công trình thuỷ lợi trong hệ thống, Công ty thường xuyên phối hợp với các đơn vị có liên quan tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi, Luật Thuỷ lợi. Cùng với đó, Công ty chủ động tiêu thau rửa nước hệ thống để hạn chế tối đa nguồn nước bị ô nhiễm, nhiễm chua, mặn qua cống Trà Linh I, Trà Linh II cống Diêm Điền I, Diêm Điền II.
Công tác giải phóng dòng chảy được triển khai thường xuyên. Hằng năm, Công ty tổ chức đợt giải phóng dòng chảy trên phạm vi toàn hệ thống, xử lý bèo, vật cản, các trường hợp đặt đăng, đó, vó bè vi phạm, qua đó góp phần bảo đảm khả năng dẫn nước.
Đơn vị cũng ưu tiên nạo vét những tuyến kênh nông cạn như Cầu Tre, Cầu Lê, Hộn, Châu Sơn, Cống Láng, Minh Hồng, Nam Đài, Quán Dô, Chợ Cổng, N2, Diêm Tỉnh, Cống Cháy, Cầu Kênh, Tân Việt, Phú Lạc...
Ông Đỗ Thanh Tùng cho biết, bảo vệ môi trường nước phải được thực hiện đồng thời với quản lý, vận hành công trình. Công ty chủ động tiêu, thau rửa hệ thống, hạn chế nguồn nước ô nhiễm, nhiễm chua, mặn xâm nhập qua các khu vực cửa biển. Cùng với đó là phối hợp tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức bảo vệ công trình và nguồn nước.
Hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình triển khai các giải pháp bảo vệ nguồn nước, như: kiểm tra thường xuyên các điểm xả nước thải, rác thải; uyên truyền người dân không xả rác xuống kênh mương; giải phóng dòng chảy, xử lý bèo và vật cản; tăng cường nạo vét các tuyến kênh nông cạn; chủ động tiêu, thau rửa, hạn chế ô nhiễm, nhiễm chua, mặn.
Một trong những hướng đi được Hệ thống thuỷ lợi Bắc Thái Bình chú trọng là ứng dụng công nghệ số trong quan trắc và vận hành công trình. Đơn vị đã lắp đặt các thiết bị đo mực nước tự động tại 15 công trình trọng điểm. Đồng thời triển khai quan trắc mặn tự động tại một số vị trí quan trọng như cống Thuyền Quan, cống Thiên Kiều và cống Thái Phúc.
Dữ liệu quan trắc được cập nhật liên tục, hỗ trợ cán bộ theo dõi diễn biến nguồn nước, từ đó chủ động đóng, mở cống, điều tiết nước và ứng phó với xâm nhập mặn, triều cường. Các điểm quan trắc tại Cống Lão Khê, Nhâm Lang, Tịnh Xuyên, Hiệp, Đại Nẫm, Cao Nội, Đồng Cống, Cầu Nguyễn, Trà Linh, Diêm Điền, Hệ... từng bước hình thành mạng lưới theo dõi nguồn nước phục vụ điều hành.
Cũng theo ông Đỗ Thanh Tùng, chuyển đổi số giúp nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ, ngập úng; đồng thời hỗ trợ chỉ đạo, điều hành và vận hành công trình theo hướng chủ động, linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, việc số hóa toàn bộ hệ thống vẫn gặp khó khăn do kinh phí đầu tư và bảo trì lớn. Thiết bị quan trắc có yêu cầu kỹ thuật cao, khi xảy ra sự cố phải thuê đơn vị chuyên môn xử lý. Trong khi đó, nhân lực công nghệ thông tin và kỹ sư chuyên ngành còn thiếu.
Công ty kiến nghị cấp trên quan tâm bố trí nguồn kinh phí riêng cho đầu tư, duy trì hệ thống chuyển đổi số. Đồng thời tổ chức các lớp tập huấn, nâng cao kỹ năng sử dụng phần mềm và thiết bị số cho đội ngũ cán bộ.
Từ nền tảng công trình hiện có, việc kết hợp đầu tư nâng cấp hạ tầng với kiểm soát chất lượng nguồn nước và chuyển đổi số sẽ tạo điều kiện để Hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình từng bước vận hành theo hướng hiện đại, đa mục tiêu, đáp ứng tốt hơn yêu cầu sản xuất và dân sinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Chuyển đổi số được xác định là giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực quan trắc, dự báo và điều hành. Trọng tâm thời gian tới là mở rộng mạng lưới quan trắc, tăng khả năng tự động hóa, nâng cao chất lượng nhân lực và bảo đảm nguồn kinh phí duy trì hệ thống, ông Đỗ Thanh Tùng nhấn mạnh.