Hiện thực hóa khát vọng về quốc gia biển mạnh

Hiện thực hóa khát vọng về quốc gia biển mạnh

Thứ năm, 24/9/2026, 05:46 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã mở ra một cách tiếp cận mới đối với không gian phát triển từ biển. Trong định hướng đó, phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới, với mục tiêu đến năm 2030 công suất điện gió ngoài khơi đạt từ 6 - 10 GW, không chỉ là bài toán bổ sung nguồn điện sạch mà còn mở ra cơ hội hình thành những ngành kinh tế biển mới có giá trị gia tăng cao, dựa trên công nghệ, công nghiệp và năng lực làm chủ chuỗi giá trị.
trang-31_1789960949.jpg
Điện gió ngoài khơi

Nghị quyết số 20-NQ/TW mở không gian phát triển mới từ biển

Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh không chỉ là câu chuyện khai thác lợi thế tự nhiên, mà trước hết là khả năng biến lợi thế biển thành năng lực phát triển. Đây là một trong những tư duy quan trọng được thể hiện trong Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới; đồng thời, theo định hướng của Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, Việt Nam phấn đấu đưa vào vận hành từ 6.000 - 17.000 MW điện gió ngoài khơi trong giai đoạn 2030 - 2036 cho thấy, điện gió ngoài khơi đã được đặt trong một tầm nhìn phát triển kinh tế biển rộng hơn, thay vì chỉ được xem như một nguồn điện bổ sung cho hệ thống năng lượng quốc gia.

Định hướng này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng nhanh để phục vụ tăng trưởng kinh tế. Điện gió ngoài khơi có thể góp phần đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, tăng khả năng chống chịu trước những biến động của thị trường năng lượng thế giới và thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang mô hình phát triển xanh. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn điện gió ngoài khơi dưới góc độ sản xuất điện, giá trị của lĩnh vực này sẽ chưa được nhận diện đầy đủ. Bản chất của điện gió ngoài khơi là một lĩnh vực kinh tế có tính liên ngành rất cao, nằm ở giao điểm giữa tài nguyên biển, năng lượng, công nghiệp, khoa học công nghệ, xây dựng, giao thông hàng hải và dịch vụ. Mỗi dự án không chỉ tạo ra điện năng mà còn tạo ra nhu cầu về khảo sát, thiết kế, chế tạo, đóng tàu, kết cấu thép, cáp ngầm, cảng biển, logistics, xây lắp, vận hành và bảo dưỡng.

Đó chính là điểm cần nhìn nhận từ tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW. Quốc gia biển mạnh không thể chỉ dựa vào những ngành khai thác tài nguyên truyền thống, mà phải từng bước hình thành những ngành kinh tế biển mới có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Khi đó, biển không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên mà trở thành không gian kiến tạo các chuỗi giá trị mới.

Việt Nam có những lợi thế tự nhiên rất lớn để thực hiện hướng đi này. Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn cùng nguồn tài nguyên gió ngoài khơi được đánh giá cao, nước ta có điều kiện phát triển điện gió ngoài khơi ở quy mô công nghiệp. Theo Báo cáo “Đánh giá chi tiết tiềm năng tài nguyên gió các vùng ven biển (đến 6 hải lý) và các khu vực xa bờ ở Việt Nam và Đề xuất hỗ trợ dài hạn cho ngành điện” của Cục Khí tượng Thủy văn phối hợp với UNDP, công bố ngày 18/4/2025, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi đạt khoảng 1.068 GW; sau khi loại trừ các khu vực hạn chế khai thác, quy mô có thể phát triển vẫn vượt 900 GW.

Quy mô tiềm năng đó mở ra một cơ hội lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận. Tài nguyên lớn không tự động tạo ra năng lực cạnh tranh. Hơn 900 GW mới chỉ tồn tại trên bản đồ tài nguyên nếu chưa được chuyển hóa thành dự án đầu tư, chuỗi cung ứng và điện năng thương mại.

Theo TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lợi thế tài nguyên chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển thành dự án, chuỗi cung ứng và một ngành công nghiệp biển thực sự; điểm nghẽn hiện nay không nằm ở nguồn gió mà ở thể chế và tiến độ triển khai. Nhìn từ thực tiễn, Việt Nam đã có những nền tảng ban đầu để hình thành chuỗi giá trị này. Việc Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) xuất khẩu 33 chân đế điện gió quy mô lớn vào tháng 6/2025 và trở thành nhà thầu của 10 trạm biến áp ngoài khơi với tổng công suất khoảng 6 GW cho thấy doanh nghiệp trong nước đã bước đầu tham gia vào một số khâu có yêu cầu kỹ thuật cao của ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi.

Theo ông Nguyễn Tuấn, Trưởng ban Thương mại PTSC, riêng một dự án chân đế điện gió ngoài khơi có thể tạo doanh thu xuất khẩu hơn 300 - 400 triệu USD, tạo việc làm cho gần 3.000 người thuộc gần 100 doanh nghiệp trong nước trong khoảng 3 năm. Điều đáng chú ý ở đây không chỉ là quy mô doanh thu hay số việc làm, mà là khả năng hình thành năng lực công nghiệp và tăng mức độ tự chủ của nền kinh tế. Dự án điện gió ngoài khơi vì thế có thể trở thành “hạt nhân” kéo theo nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ cùng phát triển. Chuỗi giá trị này bao gồm đóng tàu chuyên dụng, chế tạo kết cấu thép, sản xuất cáp ngầm, khảo sát địa chất, cảng biển, logistics, vận hành, bảo dưỡng và các dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Nếu tỷ lệ nội địa hóa được nâng lên, giá trị gia tăng sẽ không chỉ nằm ở sản lượng điện mà còn ở năng lực làm chủ công nghệ, sự phát triển của doanh nghiệp trong nước và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là giá trị lớn hơn của điện gió ngoài khơi khi đặt trong tổng thể Nghị quyết số 20-NQ/TW. Mục tiêu 6 - 10 GW đến năm 2030 không nên chỉ được hiểu là một con số về công suất nguồn điện. Đó còn là cơ hội để Việt Nam thử nghiệm khả năng kiến tạo một ngành kinh tế biển mới, nơi năng lượng trở thành điểm khởi đầu cho công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Từ mục tiêu 6 - 10 GW đến yêu cầu kiến tạo thể chế và chuỗi giá trị

Nếu Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra không gian chiến lược thì nhiệm vụ tiếp theo là biến không gian đó thành năng lực phát triển thực tế. Đây là thách thức lớn bởi điện gió ngoài khơi đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, thời gian chuẩn bị và triển khai dài, đồng thời liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau.

Cùng với việc giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam triển khai khảo sát các dự án điện gió ngoài khơi tại khu vực miền Bắc và miền Nam, một số doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đến từ Đan Mạch, Hoa Kỳ, Nhật Bản,... cũng đã được cấp phép khảo sát biển với tổng công suất khoảng 10 GW. Tuy nhiên, để biến hoạt động khảo sát thành các dự án thương mại và hoàn thành mục tiêu 6 - 10 GW vào năm 2030, vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong đó, thể chế là một trong những điểm nghẽn có tính quyết định. Điện gió ngoài khơi không thể phát triển chỉ bằng chính sách năng lượng, bởi mỗi dự án đồng thời liên quan đến phân bổ không gian biển, tài nguyên và môi trường biển, cấp phép, sử dụng và thuê mặt biển, đáy biển, đầu tư, xây dựng, giao thông hàng hải, đất đai và hệ thống truyền tải điện.

TS. Dư Văn Toán cho rằng, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý và có cơ chế đặc thù cho điện gió ngoài khơi. Trong đó, các quy định về phân bổ không gian biển, cơ chế cấp phép, đánh giá tác động môi trường, sử dụng và thuê mặt biển, đáy biển cần được làm rõ; đồng thời Luật Điện lực cần bổ sung cơ chế cấp giấy phép điện lực, trước mắt ưu tiên cho các dự án triển khai đến năm 2030. Cùng với đó là yêu cầu quy hoạch quỹ đất cho trạm biến áp trên bờ và đường dây kết nối để bảo đảm hạ tầng truyền tải đồng bộ.

Những yêu cầu này cho thấy thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW đối với điện gió ngoài khơi đòi hỏi một cách tiếp cận liên ngành, liên vùng và thống nhất. Không gian biển là một nguồn lực có tính đặc thù, liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và sinh kế. Vì vậy, phát triển ngành kinh tế biển mới không chỉ cần nguồn vốn mà còn cần một phương thức quản trị đủ đồng bộ để bảo đảm các nguồn lực được phân bổ hợp lý và các dự án có thể triển khai với thời gian, chi phí và rủi ro có thể dự báo.

Nghị định số 272/2026/NĐ-CP như một bước đi đầu tiên nhằm hình thành khung pháp lý cho thị trường điện gió ngoài khơi. Tuy nhiên, hành lang pháp lý mới chỉ là điều kiện nền tảng. Với một lĩnh vực có chu kỳ đầu tư 6 - 8 năm và suất đầu tư hàng chục tỷ USD, nhà đầu tư cần một chính sách ổn định, có khả năng dự báo trong toàn bộ vòng đời dự án.

Từ góc nhìn đó, mục tiêu 6 - 10 GW vào năm 2030 cần được nhìn nhận như một bước khởi đầu cho quá trình xây dựng ngành kinh tế biển mới, chứ không chỉ là đích đến về công suất. Thành công cuối cùng không chỉ nằm ở số MW được hòa lưới, mà ở việc Việt Nam có hình thành được năng lực doanh nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ, nguồn nhân lực và chuỗi cung ứng đủ mạnh hay không, đây cũng là thời điểm cần hành động quyết liệt. Trong khi nhiều quốc gia trong khu vực đã vận hành các dự án điện gió ngoài khơi thương mại và từng bước hình thành chuỗi cung ứng, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Mỗi năm chậm triển khai đều làm tăng chi phí cơ hội, trong khi thị trường cần một lộ trình đủ ổn định để doanh nghiệp tính toán dòng tiền, huy động vốn và đưa ra quyết định đầu tư cho những dự án kéo dài nhiều thập kỷ.

Vì vậy, thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi không nên được hiểu đơn thuần là cuộc chạy đua để đạt một con số công suất. Điều quan trọng hơn là phải biến mục tiêu đó thành quá trình kiến tạo một ngành kinh tế biển mới. Khi mỗi dự án vừa tạo ra nguồn điện sạch, vừa mở ra thị trường cho doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, làm chủ công nghệ và gia tăng giá trị trong nước, khi đó tiềm năng biển mới thực sự được chuyển hóa thành năng lực phát triển.

Nghị quyết số 20-NQ/TW đã mở ra hướng đi chiến lược để Việt Nam chuyển từ khai thác lợi thế biển sang kiến tạo giá trị từ biển. Điện gió ngoài khơi có thể là một trong những lĩnh vực tiêu biểu để hiện thực hóa hướng đi đó. Vấn đề quyết định hiện nay không còn là Việt Nam có tiềm năng hay không, mà là có đủ nhanh và đủ đồng bộ để biến tiềm năng ấy thành những dự án, chuỗi công nghiệp và giá trị kinh tế thực tế hay không.

Điện gió ngoài khơi vì thế không chỉ là câu chuyện về năng lượng. Nếu được phát triển đúng hướng, đây có thể trở thành một động lực mới của kinh tế biển, góp phần đưa tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW từ định hướng chiến lược vào những giá trị phát triển cụ thể, qua đó từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Anh Bùi - Viện Xây dựng công trình điện