Xuất bản: Thứ năm, 17/9/2026, 16:36 (GMT+7)

thumb_1789375390.jpg

nenchen_1789374424.jpg

Để có góc nhìn toàn diện từ khâu chính sách, kỹ thuật hệ thống cho đến bài toán bảo vệ môi trường và đào tạo nhân lực biển thế hệ mới, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc phỏng vấn PGS,TS. Đinh Văn Châu – Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực (EPU).

nenchen_1789374424.jpg

tit-1_1789374302.jpg

nenchen_1789374424.jpg

PV: Thưa PGS,TS. Đinh Văn Châu, mục tiêu phát triển 6 - 10 GW điện gió ngoài khơi đến năm 2030 có tầm vóc như thế nào đối với an ninh năng lượng quốc gia và vị thế “quốc gia biển mạnh” của Việt Nam?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Tôi cho rằng đây là một mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, thể hiện bước chuyển trong cách nhìn nhận và tổ chức khai thác nguồn lực biển của đất nước. Cần diễn đạt chính xác: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 xác định phát triển các dự án điện gió ngoài khơi có công suất 6 - 10 GW trong mục tiêu đến năm 2030. Chỉ tiêu ấy mở ra yêu cầu phát triển đồng thời năng lượng, công nghiệp, hạ tầng và năng lực khoa học công nghệ biển.

Về an ninh năng lượng, điện gió ngoài khơi tạo thêm khả năng khai thác nguồn năng lượng trong nước, đa dạng hóa cơ cấu cung ứng và góp phần giảm mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu. Tuy nhiên, công suất lắp đặt không đồng nghĩa với công suất có thể huy động chắc chắn ở mọi thời điểm. Giá trị thực sự của nguồn điện này phải được đánh giá cùng khả năng truyền tải, dự báo, dự phòng và vận hành linh hoạt của toàn hệ thống.

nenchen_1789374424.jpg

trang-5-ban-2_1789376134.jpg
Theo PGS,TS. Đinh Văn Châu, về an ninh năng lượng, điện gió ngoài khơi tạo sẽ thêm khả năng khai thác nguồn năng lượng trong nước. Ảnh minh họa

nenchen_1789374424.jpg

Về kinh tế biển, một dự án điện gió ngoài khơi có thể tạo nhu cầu cho cơ khí chế tạo, kết cấu công trình, cảng biển, tàu chuyên dụng, cáp ngầm, dịch vụ khảo sát, vận hành và bảo dưỡng. Nếu tổ chức tốt, chúng ta có cơ hội hình thành một chuỗi giá trị công nghiệp mới, tạo việc làm kỹ thuật cao và nâng năng lực tham gia thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam.

Từ góc nhìn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tôi muốn nhấn mạnh: Phát triển nguồn điện mới phải đi cùng sử dụng tốt từng đơn vị điện năng. Nguồn điện sạch chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được truyền tải hiệu quả, tiêu thụ hợp lý và chuyển hóa thành năng suất của nền kinh tế.

Tầm vóc của mục tiêu này cần được đo bằng cả lượng điện làm ra, giá trị giữ lại trong nước và năng lực công nghệ mà Việt Nam làm chủ. Đó là nền tảng để sức mạnh biển trở thành sức mạnh phát triển bền vững.

nenchen_1789374424.jpg

box-1_1789376876.jpg

nenchen_1789374424.jpg

PV: Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất về cơ chế và hạ tầng kỹ thuật cần tháo gỡ để phát triển năng lượng tái tạo biển?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Theo tôi, điểm nghẽn cần tập trung xử lý là sự thiếu đồng bộ giữa các khâu của quá trình phát triển dự án. Điện gió ngoài khơi đòi hỏi vốn lớn, thời gian chuẩn bị dài và sự phối hợp của nhiều ngành. Chỉ một khâu chậm cũng có thể làm thay đổi hiệu quả của toàn bộ dự án.

Trước hết là tính rõ ràng, nhất quán và khả năng dự báo của cơ chế. Luật Điện lực năm 2024 đã tạo nền tảng pháp lý mới; Chính phủ tiếp tục ban hành các quy định về phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió ngoài khơi. Vì vậy, vấn đề hiện nay phải được nhìn nhận là tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực thi thông suốt, đặc biệt trong khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, sử dụng không gian biển và kết nối lưới điện.

Tiếp theo là khả năng huy động vốn. Nhà đầu tư và tổ chức tín dụng cần nhìn thấy cơ chế doanh thu, nghĩa vụ của các bên và cách phân bổ rủi ro đủ rõ, nhất là rủi ro chậm đấu nối, hạn chế phát điện và thay đổi tiến độ. Tôi cho rằng chính sách cần hướng tới giảm bất định, đồng thời bảo đảm lợi ích của Nhà nước và người sử dụng điện.

Về hạ tầng, phải chuẩn bị đồng thời lưới truyền tải trên bờ, hành lang cáp ngầm, điểm tiếp bờ, cảng phục vụ lắp ráp và vận hành, phương tiện thi công và năng lực sửa chữa. Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh tại Quyết định số 1509/QĐ-BCT ngày 30/5/2025. Yêu cầu tiếp theo là cụ thể hóa trách nhiệm và tiến độ giữa nguồn điện với hạ tầng tiếp nhận điện.

Một nội dung đặc biệt quan trọng là dữ liệu biển và sự đồng thuận xã hội. Dự án cần được xem xét cùng hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông hàng hải, bảo tồn và quốc phòng, an ninh. Tham vấn ngư dân, đánh giá tác động tích lũy và cơ chế bảo đảm sinh kế phải được thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị.

nenchen_1789374424.jpg

cum-1_1789394908.jpg

nenchen_1789374424.jpg

tit-2_1789374543.jpg

nenchen_1789374424.jpg

a1_1789402695.jpg
Các thế hệ sinh viên năng động của Trường Đại học Điện lực. Ảnh EPU

nenchen_1789374424.jpg

PV: Trường Đại học Điện lực đã chuẩn bị gì về chương trình đào tạo, phòng thí nghiệm và hợp tác quốc tế để cung ứng kỹ sư cho điện gió ngoài khơi?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Sự chuẩn bị phải bắt đầu từ năng lực nền tảng của người kỹ sư. Trường Đại học Điện lực có nền tảng đào tạo về hệ thống điện, tự động hóa hệ thống điện và lưới điện thông minh. Chương trình chuyên ngành Lưới điện thông minh đã xác định năng lực liên quan đến kết nối nguồn điện phân tán vào lưới điện. Đây là cơ sở để phát triển các nội dung chuyên sâu phục vụ chuyển dịch năng lượng.

Ở lĩnh vực hợp tác, ngày 4/9/2026, Nhà trường đã làm việc với Đại học Kỹ thuật Nghề nghiệp Quảng Tây và Công ty Cổ phần Lưới điện Quảng Tây, trao đổi định hướng xây dựng phòng thí nghiệm chung về trí tuệ nhân tạo trong công nghiệp năng lượng. Đây là bước chuẩn bị hợp tác nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng công nghệ; việc hình thành, vận hành phòng thí nghiệm cần tiếp tục được cụ thể hóa.

nenchen_1789374424.jpg

quang-tay_1789402542.jpg
Ngày 08/7/2026, đoàn cán bộ và sinh viên Trường Đại học Điện lực đã tham gia Chương trình trao đổi, hợp tác tại Học viện Kỹ thuật Điện lực Quảng Tây, Trung Quốc nhằm hướng tới tăng cường giao lưu học thuật, trao đổi văn hóa,
nâng cao năng lực chuyên môn cho sinh viên. Ảnh EPU

nenchen_1789374424.jpg

Đối với điện gió ngoài khơi, theo tôi, chương trình cần được phát triển theo hướng liên ngành. Bên cạnh hệ thống điện, máy điện và điều khiển, người học phải tiếp cận đặc thù môi trường biển, độ tin cậy thiết bị, công nghệ cáp ngầm, tổ chức bảo trì và an toàn làm việc ngoài khơi.

Về thực hành, hướng ưu tiên nên là kết hợp mô phỏng, thí nghiệm và trải nghiệm tại doanh nghiệp. Sinh viên cần được làm việc với tình huống vận hành, dữ liệu sự cố và quy trình kỹ thuật gần với thực tế. Đầu tư phòng thí nghiệm phải gắn với chuẩn đầu ra và nhu cầu sử dụng, đồng thời khai thác thiết bị, dữ liệu và chuyên gia của đối tác.

Chúng tôi nhìn nhận đây là quá trình nâng cấp năng lực đào tạo có lộ trình. Mỗi bước phát triển phải trả lời được câu hỏi: sinh viên sẽ thực hiện được công việc gì, trong điều kiện nào và với mức độ an toàn, trách nhiệm ra sao?

PV: Trường Đại học Điện lực có kế hoạch mở chuyên ngành mới hoặc chứng chỉ chuyên sâu về công trình năng lượng ngoài khơi, chẩn đoán sự cố cáp ngầm và tua-bin biển hay không?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Đây là những hướng đào tạo rất đáng được nghiên cứu phát triển. Quan điểm của tôi là xuất phát từ vị trí việc làm và yêu cầu năng lực của doanh nghiệp để lựa chọn hình thức đào tạo phù hợp.

Trước mắt, phương án có tính khả thi là xây dựng các học phần và khóa bồi dưỡng chuyên sâu trên nền tảng những chương trình hiện có. Nội dung có thể tập trung vào hệ thống điện trang trại gió ngoài khơi; kết nối và bảo vệ lưới điện; giám sát tình trạng tua-bin; chẩn đoán cáp ngầm; quản lý vận hành, bảo dưỡng và an toàn kỹ thuật.

Chẳng hạn, với chẩn đoán cáp ngầm, người học cần hiểu cơ chế suy giảm cách điện, biết lựa chọn phương pháp đo kiểm, phân tích dấu hiệu bất thường và đề xuất phương án xử lý trong phạm vi được giao. Với tua-bin, cần kết hợp kiến thức điện, cơ khí, điều khiển và phân tích dữ liệu để đánh giá tình trạng thiết bị.

nenchen_1789374424.jpg

cum-2-3_1789402140.jpg
Ngày 11/3/2026, Trường Đại học Điện lực (EPU) phối hợp với Quỹ Vernova Foundation và tổ chức Asia Society for Social Improvement and Sustainable Transformation thành lập Trung tâm Đào tạo xuất sắc về điện gió tại EPU,
nhằm tăng cường khả năng đào tạo thực hành cho sinh viên trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

nenchen_1789374424.jpg

Một chuyên ngành mang tên “Công trình năng lượng ngoài khơi” có phạm vi rộng, bao gồm cả những nội dung về kết cấu, nền móng và thi công biển. Vì vậy, nếu phát triển, cần có liên kết với các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp có năng lực bổ trợ, bảo đảm chiều sâu chuyên môn.

Tôi cũng muốn phân biệt rõ chứng nhận hoàn thành khóa học với chứng chỉ nghề nghiệp hoặc chứng chỉ an toàn được ngành công nghiệp chấp nhận. Nhà trường cần lựa chọn đối tác và đáp ứng đầy đủ điều kiện tương ứng trước khi công bố khả năng cấp chứng chỉ.

Hướng đi phù hợp là triển khai từng bước: khảo sát nhu cầu, xác lập chuẩn đầu ra, đào tạo thí điểm, đánh giá cùng doanh nghiệp, sau đó mới xem xét mở rộng thành chương trình hoặc chuyên ngành chính thức.

PV: “Tam giác phát triển” Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp cần được triển khai như thế nào để sinh viên tiếp cận và làm chủ công nghệ biển hiện đại?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Theo tôi, sự liên kết này phải được tổ chức bằng những nhiệm vụ chung, có sản phẩm và trách nhiệm cụ thể.

Nhà nước tạo định hướng dài hạn, chuẩn mực chất lượng và cơ chế đặt hàng đào tạo, nghiên cứu. Doanh nghiệp xác định nhu cầu nhân lực, cung cấp bài toán kỹ thuật, dữ liệu phù hợp và môi trường thực hành. Nhà trường chuyển những yêu cầu đó thành chương trình, phương pháp đào tạo và hoạt động nghiên cứu có thể kiểm chứng.

Với EVN, Petrovietnam và các đối tác quốc tế, tôi mong muốn thúc đẩy cách hợp tác trong đó doanh nghiệp tham gia từ khâu thiết kế chuẩn đầu ra. Chuyên gia doanh nghiệp có thể đồng hướng dẫn đồ án; sinh viên thực tập theo nhiệm vụ cụ thể; giảng viên được cập nhật công nghệ tại cơ sở sản xuất. Kết quả học tập cần được đánh giá bằng khả năng giải quyết công việc và tuân thủ quy trình.

Chúng ta cũng cần đặt kỳ vọng đúng. Sinh viên mới tốt nghiệp có thể được chuẩn bị để tham gia sớm vào công việc, nhưng làm chủ độc lập những công nghệ phức tạp ngoài khơi đòi hỏi tích lũy kinh nghiệm, đào tạo tại vị trí việc làm và đánh giá năng lực. Một chương trình tốt phải rút ngắn quá trình chuyển tiếp ấy, đồng thời giữ nghiêm yêu cầu an toàn.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW, với yêu cầu cụ thể hóa nhiệm vụ, cơ quan thực hiện, kết quả và thời hạn. Tôi cho rằng tinh thần đó cũng cần được áp dụng vào hợp tác đào tạo: rõ bài toán, rõ nguồn lực, rõ sản phẩm và rõ trách nhiệm.

nenchen_1789374424.jpg

tit-3_1789374740.jpg

PV: Trường Đại học Điện lực có thể tập trung vào những hướng nghiên cứu nào để hỗ trợ khả năng hấp thụ điện gió ngoài khơi và ứng dụng truyền tải HVDC (High Voltage Direct Current)?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Đây là bài toán cần tiếp cận từ toàn bộ hệ thống điện. Đưa điện từ ngoài khơi vào bờ mới là một phần; điện phải tiếp tục được truyền đến nơi tiêu thụ và vận hành an toàn trong những trạng thái khác nhau của hệ thống.

HVDC là một lựa chọn công nghệ quan trọng, nhưng cần được so sánh với truyền tải xoay chiều theo công suất, chiều dài tuyến, cấu trúc đấu nối và chi phí vòng đời. Bản thân HVDC cũng đặt ra yêu cầu về trạm chuyển đổi và điều khiển.

nenchen_1789374424.jpg

tc5_1789403147.jpg
Giảng viên Trường Đại học Điện lực giới thiệu với sinh viên về nhu cầu các nguồn năng lượng trong tương lai. Ảnh EPU

nenchen_1789374424.jpg

Trên nền tảng chuyên môn của Trường Đại học Điện lực, tôi cho rằng cần ưu tiên bốn nhóm bài toán:

Thứ nhất là đánh giá khả năng tiếp nhận điện gió theo từng khu vực, từng thời điểm: từ giới hạn truyền tải, dự báo công suất đến nhu cầu dự phòng và mức độ hạn chế phát điện. Mục tiêu là đưa ra phương án đấu nối và vận hành có căn cứ định lượng.

Thứ hai là nghiên cứu điều khiển và ổn định hệ thống khi tỷ trọng nguồn điện kết nối qua bộ biến đổi tăng lên. Trong đó, điều khiển tạo lưới là hướng đáng quan tâm, cần được kiểm chứng bằng mô phỏng và thử nghiệm phù hợp trước khi áp dụng. Các nghiên cứu quốc tế đã khảo sát khả năng hỗ trợ khôi phục hệ thống của điện gió kết nối HVDC sử dụng loại điều khiển này.

Thứ ba là phối hợp nguồn điện gió với lưu trữ, nguồn linh hoạt và điều chỉnh nhu cầu điện. Bài toán phải tối ưu đồng thời độ tin cậy và chi phí, tránh coi một công nghệ riêng lẻ là lời giải cho mọi tình huống.

Thứ tư là giám sát, chẩn đoán và bảo vệ thiết bị, đặc biệt đối với cáp ngầm và hệ thống chuyển đổi công suất. Hướng nghiên cứu cần gắn với dữ liệu vận hành và yêu cầu bảo trì thực tế.

Đây là những hướng ưu tiên tôi đề xuất phát triển cùng doanh nghiệp và các đối tác nghiên cứu. Sản phẩm cần hướng tới là mô hình được kiểm chứng, công cụ hỗ trợ quyết định và giải pháp có khả năng thử nghiệm trong điều kiện của Việt Nam.

nenchen_1789374424.jpg

canh-dong-dien-gio-tan-thuan.-anh-le-minhvnp_1789404900.jpg
Theo PGS,TS. Đinh Văn Châu, đưa điện từ ngoài khơi vào bờ mới là một phần, điện phải tiếp tục được truyền đến nơi tiêu thụ và vận hành an toàn trong những trạng thái khác nhau của hệ thống.
Trong ảnh: Nhà máy điện gió Tân Thuận (xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) là một trong những dự án năng lượng tái tạo quan trọng ven biển phía Nam. Ảnh Lê Minh VNP

nenchen_1789374424.jpg

PV: Trường Đại học Điện lực tiếp cận AI, IoT và các công nghệ số như thế nào trong đào tạo, nghiên cứu lưới điện thông minh vùng ven biển và hải đảo?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Cách tiếp cận của tôi là bắt đầu từ vấn đề vận hành cần giải quyết, sau đó lựa chọn công nghệ phù hợp. Với khu vực ven biển và hải đảo, những vấn đề thiết thực là độ tin cậy cung cấp điện, khả năng ứng phó thời tiết cực đoan, chi phí nhiên liệu và điều kiện tiếp cận thiết bị để bảo dưỡng.

Trường Đại học Điện lực đã có nền tảng đào tạo lưới điện thông minh và đang mở rộng kết nối nghiên cứu, đào tạo về trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực năng lượng. Từ nền tảng đó, hướng phát triển cần tập trung vào việc đưa dữ liệu và tình huống thực tế vào bài học.

Chẳng hạn, một bài toán đào tạo có thể yêu cầu sinh viên xây dựng phương án vận hành lưới điện nhỏ cho một đảo, kết hợp nguồn tái tạo, lưu trữ và nguồn dự phòng. Người học phải dự báo phụ tải, bố trí dự trữ, ưu tiên điện cho cơ sở y tế, thông tin liên lạc và các nhu cầu thiết yếu, đồng thời tính đến tình huống mất kết nối hoặc thời tiết bất lợi.

nenchen_1789374424.jpg

van-chuyen_1789404324.jpg
Doanh nghiệp vận chuyển thiết bị xây dựng trụ điện gió đến công trường. Ảnh minh họa

nenchen_1789374424.jpg

Trong mô hình như vậy, IoT hỗ trợ thu thập trạng thái thiết bị; AI hỗ trợ dự báo và nhận diện bất thường; mô hình số hỗ trợ thử nghiệm phương án trước khi áp dụng. Việc phát triển thành dự án tại một địa bàn cụ thể cần có đối tác vận hành, dữ liệu, điều kiện thử nghiệm và cơ chế đánh giá rõ ràng.

Đối với bản đồ số, đóng góp phù hợp của trường đại học chuyên ngành điện là lớp dữ liệu và mô hình về hạ tầng điện, phụ tải, nguồn phân tán và rủi ro cung cấp điện, kết nối với hệ thống dữ liệu không gian biển do cơ quan có thẩm quyền quản lý.

Công nghệ số phải giúp con người quyết định tốt hơn và hệ thống vận hành an toàn hơn. Vì vậy, chất lượng dữ liệu, an ninh mạng, khả năng giải thích kết quả và trách nhiệm của người vận hành phải được đặt ngay trong thiết kế đào tạo, nghiên cứu.

nenchen_1789374424.jpg

thi-cong_1789404365.jpg
PGS,TS. Đinh Văn Châu cho rằng, IoT hỗ trợ thu thập trạng thái thiết bị; AI hỗ trợ dự báo và nhận diện bất thường và các lớp dữ liệu, công nghệ cao,... đã hỗ trợ các đơn vị thi công hoàn thành xây dựng các dự án điện gió ngoài khơi trong mọi điều kiện thời tiết. Ảnh minh họa

nenchen_1789374424.jpg

PV: Ngoài kiến thức chuyên môn, sinh viên kỹ thuật năng lượng cần chuẩn bị những hành trang gì để vươn ra biển lớn, thưa Thầy?

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Tôi muốn nhấn mạnh năm hành trang:

Trước hết là văn hóa an toàn và kỷ luật nghề nghiệp. Người kỹ sư phải biết đánh giá rủi ro, tuân thủ quy trình, phối hợp cứu hộ và dừng công việc khi điều kiện không bảo đảm. Năng lực nhận diện giới hạn của bản thân cũng là một phẩm chất chuyên nghiệp.

Thứ hai là ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Sinh viên cần đọc hiểu tài liệu kỹ thuật, trình bày phương án, trao đổi với chuyên gia và ghi chép công việc rõ ràng. Ngoại ngữ phải trở thành công cụ tiếp cận tri thức và bảo đảm chất lượng phối hợp.

Thứ ba là tư duy liên ngành và năng lực số. Người làm điện cần hiểu mối liên hệ với cơ khí, công trình, môi trường và kinh tế. Người sử dụng AI phải biết kiểm tra dữ liệu, kiểm chứng kết quả và chịu trách nhiệm về quyết định chuyên môn.

Thứ tư là trách nhiệm với môi trường và cộng đồng. Mỗi công trình ngoài khơi hiện diện trong một không gian có hệ sinh thái, hoạt động hàng hải và sinh kế ngư dân. Kỹ sư cần biết lắng nghe, tôn trọng các lợi ích chính đáng và tìm giải pháp hạn chế tác động bất lợi trong suốt vòng đời dự án.

Thứ năm là khả năng tự học, sức khỏe và bản lĩnh thích ứng. Công nghệ sẽ tiếp tục thay đổi, còn điều kiện làm việc trên biển đòi hỏi sự bền bỉ và phối hợp chặt chẽ.

Tôi mong sinh viên Trường Đại học Điện lực có khát vọng lớn và thái độ làm việc nghiêm túc: hiểu chắc nguyên lý, làm đúng từng thao tác, trung thực với dữ liệu và sẵn sàng học hỏi. Đó là nền tảng để tiến xa trong nghề nghiệp.

nenchen_1789374424.jpg

box-2_1789377885.jpg

nenchen_1789374424.jpg

PV: Xin ông chia sẻ thông điệp cốt lõi về sứ mệnh của Trường Đại học Điện lực trên hành trình hiện thực hóa khát vọng “quốc gia biển mạnh, giàu từ biển”.

PGS,TS. Đinh Văn Châu: Thông điệp tôi muốn gửi gắm là: Muốn vươn ra biển lớn, phải phát triển năng lực con người và làm chủ tri thức, công nghệ.

Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra định hướng xây dựng quốc gia biển mạnh; Nghị quyết số 70-NQ/TW nhấn mạnh bảo đảm an ninh năng lượng; Nghị quyết số 57-NQ/TW xác lập vai trò đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo tôi, khi đặt trong mối liên hệ với nhau, các định hướng ấy làm rõ một yêu cầu: khai thác nguồn lực thiên nhiên phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ của đất nước.

Với Trường Đại học Điện lực, sứ mệnh ấy cần được cụ thể hóa bằng chất lượng của người tốt nghiệp, giá trị của công trình nghiên cứu và hiệu quả hợp tác với doanh nghiệp, địa phương. Mỗi kỹ sư được đào tạo tốt, mỗi giải pháp giúp hệ thống điện an toàn và hiệu quả hơn, mỗi công nghệ được tiếp nhận và phát triển thành công đều là một đóng góp thiết thực.

nenchen_1789374424.jpg

khao-sat_1789404525.jpg
Trong tháng 8/2026, đoàn Giảng viên và Học viên Khoa Quản lý Công nghiệp và Năng lượng (EPU) đã có chuyến khảo sát thực tế tại Nhà máy Điện gió 4x50MW Đắk Lắk nhằm hiện thực hóa phương châm "gắn lý thuyết với thực tiễn",
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Năng lượng. Ảnh EPU

nenchen_1789374424.jpg

Tôi mong muốn Trường Đại học Điện lực trở thành địa chỉ tin cậy trong đào tạo nhân lực và giải quyết các bài toán điện – năng lượng của đất nước, trong đó có những bài toán mới từ biển. Chúng tôi cần kiên trì xây dựng năng lực, lựa chọn đúng trọng tâm và gắn trách nhiệm học thuật với trách nhiệm phát triển quốc gia.

Một quốc gia biển mạnh cần có những con người đủ tri thức để khai thác biển hiệu quả, đủ năng lực để làm chủ công nghệ và đủ trách nhiệm để gìn giữ biển cho các thế hệ mai sau. Đó cũng là tinh thần mà Trường Đại học Điện lực mong muốn trao truyền cho người học.

PV: Xin trân trọng cảm ơn PGS,TS. Đinh Văn Châu về cuộc trao đổi ý nghĩa này!

Văn Thanh (thực hiện) - Thiết kế: Chu Hồng Châu
  • Bài 2: Từ eCDT đến kiểm soát toàn diện nghề cá

    Bài 2: Từ eCDT đến kiểm soát toàn diện nghề cá

    Việc kiểm soát toàn diện hoạt động đánh bắt của tàu thuyền, Nghệ An đang từng bước hoàn thiện chuỗi quản lý nghề cá theo hướng chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả.

  • Bài 2: Biển Quảng Trị – kể bằng những câu chuyện riêng

    Bài 2: Biển Quảng Trị – kể bằng những câu chuyện riêng

    Buổi sớm ở những làng biển Quảng Trị thường bắt đầu bằng tiếng máy tàu trở về sau một đêm dài ngoài khơi. Bên bến cá, những người phụ nữ đã đứng chờ từ lúc trời còn bảng lảng. Mẻ cá đầu tiên được đưa lên bờ, tiếng gọi nhau í ới, tiếng cân hàng, tiếng xe chở hải sản nối nhau rời bến. Một ngày mới bắt đầu từ biển theo cách rất riêng của những cộng đồng đã sống cùng biển qua nhiều thế hệ. Với người dân, đó là nhịp sống quen thuộc. Với du khách, nếu được mở cánh cửa bước vào, lại là một câu chuyện nhiều lớp về biển.

  • Từ khát vọng làm chủ con tôm đến Nông dân Việt Nam xuất sắc

    Từ khát vọng làm chủ con tôm đến Nông dân Việt Nam xuất sắc

    Từng là một người lính xuất ngũ, ông Nguyễn Văn Hòa (SN 1986, trú tại xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An) đã mạnh dạn rẽ hướng sang nuôi tôm công nghệ cao và trở thành 1 trong 96 “Nông dân Việt Nam xuất sắc” thời kỳ Đổi mới.

  • Bài 1: “Con giống là mắt xích quyết định quá trình công nghiệp hóa nuôi biển”

    Bài 1: “Con giống là mắt xích quyết định quá trình công nghiệp hóa nuôi biển”

    Đối với ngành nuôi biển, con giống là một trong những mắt xích quan trọng tạo nền tảng cho phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, quy mô lớn. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với TS. Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam về những nhiệm vụ trọng tâm, điểm nghẽn về con giống và các giải pháp huy động nguồn lực phát triển ngành nuôi biển trong thời gian tới.