Từ việc Chính phủ thông qua 4 nhóm chính sách tại Nghị quyết số 182/NQ-CP ngày 08/7/2026 đến khi hồ sơ thẩm định dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được Bộ Tư pháp công bố ngày 03/8/2026, quá trình sửa đổi Luật đang từng bước cụ thể hóa yêu cầu đổi mới quản trị biển. Trọng tâm không chỉ là hoàn thiện công cụ quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường mà còn tạo hành lang pháp lý cho sử dụng không gian biển hiệu quả, phát triển các ngành kinh tế biển mới và khai thác bền vững tiềm năng từ biển.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cùng các văn bản quy định chi tiết đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Sau hơn 10 năm thực hiện, các quy định của Luật đã góp phần hình thành những công cụ quản lý tổng hợp về biển, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, quá trình triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia và sự xuất hiện của những ngành kinh tế biển mới đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống pháp luật. Một số quy định hiện hành đã bộc lộ hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường và không gian biển.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 182/NQ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 08/7/2026, đã tạo dấu mốc quan trọng trong tiến trình sửa đổi Luật. Theo Nghị quyết, Chính phủ thống nhất thông qua 4 nhóm chính sách do Bộ NN&MT đề xuất tại Báo cáo số 6958/BC-BNNMT ngày 30/6/2026, đồng thời giao Bộ NN&MT chủ trì hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy định.
Nhóm chính sách thứ nhất, tập trung hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển; giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển; phân định rõ trách nhiệm trong quản lý và tổ chức thực thi, gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Điểm đáng chú ý là chính sách mới hướng tới thiết lập cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn, mâu thuẫn trong sử dụng không gian biển và chế định sử dụng khu vực biển đa mục đích.
Nhóm chính sách thứ hai, tập trung hoàn thiện các quy định về chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển; chuyển mục đích sử dụng khu vực biển; đồng thời, xác định rõ hơn quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển. Cách tiếp cận này nhằm hài hòa giữa yêu cầu phát triển bền vững kinh tế biển với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.
Nhóm chính sách thứ ba, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, cải thiện và phục hồi môi trường, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển, hải đảo. Trong đó, kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển, kiểm soát ô nhiễm từ các hoạt động trên biển, gắn quản lý xả thải với quy hoạch không gian biển, hệ sinh thái biển, lưu vực sông ven biển và sức chịu tải của môi trường được xác định là những nội dung cần được hoàn thiện.
Nhóm chính sách thứ tư, xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo, tạo động lực khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của kinh tế biển. Như vậy, ngay ở cấp độ chính sách, sửa đổi Luật đã được đặt trong mối quan hệ thống nhất giữa quản lý không gian, bảo vệ môi trường, bảo đảm lợi ích quốc gia và tạo động lực phát triển kinh tế biển.
Nếu Nghị quyết số 182/NQ-CP ngày 08/7/2026 là bước xác lập những nhóm chính sách lớn, thì việc Bộ Tư pháp công bố hồ sơ thẩm định dự án Luật ngày 03/8/2026 cho thấy các định hướng đó đã được cụ thể hóa sâu hơn trong quá trình xây dựng dự thảo.
Theo hồ sơ dự thảo, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được xây dựng theo hướng thay thế Luật năm 2015, kế thừa những quy định còn phù hợp, đồng thời sửa đổi, bổ sung các nội dung mới để đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trong giai đoạn mới. Dự thảo gồm 8 chương, 85 điều, trong đó có một chương hoàn toàn mới về quản lý, sử dụng không gian biển.
Việc bổ sung một chương riêng về quản lý, sử dụng không gian biển cho thấy trọng tâm của quá trình sửa đổi không chỉ dừng ở quản lý từng loại tài nguyên hay từng hoạt động riêng lẻ. Không gian biển được tiếp cận như một nguồn lực cần được phân bổ, sử dụng hợp lý, hiệu quả, đồng thời phải kiểm soát được những xung đột có thể phát sinh giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương và các chủ thể sử dụng biển.
Theo dự thảo, nhóm nội dung mới bao gồm quy hoạch không gian biển quốc gia; nguyên tắc quản lý, sử dụng không gian biển; giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển; phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển; quyền tiếp cận biển của người dân; sử dụng chung khu vực biển và sử dụng khu vực biển đa mục đích. Đây là những nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với việc tổ chức lại không gian phát triển trên biển theo hướng minh bạch, có trật tự và phù hợp với quy hoạch.
Một điểm mới đáng chú ý khác là dự thảo bổ sung quy định về giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển và xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển. Cùng với đó là các quy định về đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, thời hạn sử dụng, chế độ tài chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính. Những quy định này hướng tới việc tạo lập cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng không gian biển.
Dự thảo đồng thời bổ sung quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển; quy định về sử dụng chung, sử dụng đa mục đích và các nguyên tắc liên quan đến chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển. Những nội dung này, nếu được hoàn thiện và tổ chức thực thi hiệu quả, sẽ tạo thêm cơ sở pháp lý cho việc huy động nguồn lực xã hội vào phát triển kinh tế biển, đồng thời xác lập rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình sử dụng tài nguyên và không gian biển.
Cùng với việc mở rộng không gian pháp lý cho phát triển, dự thảo cũng đặt yêu cầu bảo vệ môi trường biển ở vị trí quan trọng. Các quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ được bổ sung theo hướng cụ thể hơn, bao gồm những hoạt động không được phép hoặc chỉ được thực hiện có điều kiện trong vùng bờ và khoảng lùi xây dựng trong vùng bờ. Mục tiêu là phòng ngừa suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, xói lở bờ biển và những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái vùng bờ, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho quản lý các hoạt động xây dựng, đầu tư, khai thác tại những khu vực nhạy cảm ven biển.
Đáng chú ý, dự thảo không chỉ đặt ra yêu cầu kiểm soát và bảo vệ mà còn hướng tới tạo động lực mới cho kinh tế biển. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ được thiết kế theo hướng xác định nguyên tắc, tiêu chí áp dụng; đối tượng, dự án, mô hình, hoạt động được ưu tiên xem xét; các hình thức hỗ trợ trực tiếp và hỗ trợ mô hình, không gian phát triển mới trên biển. Dự thảo cũng đề cập cơ chế đối với nhà đầu tư chiến lược, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ biển, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tài chính biển xanh, quỹ không gian biển, phối hợp liên ngành và hỗ trợ cộng đồng ven biển, hải đảo.
Qua tiến trình từ 08/7/2026 đến 03/8/2026, có thể thấy tư duy xây dựng chính sách đang chuyển mạnh từ việc quản lý riêng lẻ từng nguồn tài nguyên sang quản trị tổng hợp không gian biển. Nếu ở bước chính sách, Chính phủ xác định 4 nhóm vấn đề lớn cần giải quyết, thì ở bước xây dựng dự thảo, các định hướng đó được cụ thể hóa thành những thiết chế mới về không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ vùng bờ, bảo tồn hệ sinh thái và ứng dụng khoa học, công nghệ.