Chỉ trong vài ngày, những trận mưa lớn liên tiếp đã khiến nhiều triền núi ở Lai Châu, Điện Biên và Lào Cai không còn đủ sức "giữ" đất. Lũ quét, sạt lở xảy ra dồn dập, cướp đi sinh mạng con người, cuốn trôi nhà cửa, chia cắt giao thông và để lại những khoảng trống khó lấp đầy giữa núi rừng Tây Bắc. Đằng sau hơn 255 tỷ đồng thiệt hại không chỉ là những con số, mà còn là lời cảnh báo ngày càng rõ nét về thiên tai cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đòi hỏi cách tiếp cận mới trong phòng ngừa và thích ứng.


Bốn ngày mưa và những bản làng bị chia cắt
Sau nhiều ngày mưa dồn dập, trên những sườn núi Tây Bắc hiện ra những vệt đất đỏ kéo dài từ đỉnh xuống tận lòng suối. Có nơi, đất đá tràn qua nhà dân, lấp ruộng và xé đứt con đường độc đạo dẫn vào bản. Có nơi, dòng nước vốn nhỏ và hiền lành bất ngờ biến thành lũ dữ, cuốn theo cây gỗ, bùn đá và cả những mái nhà. Khi mưa ngớt, khoảng trống để lại giữa núi đồi không chỉ được đo bằng số mét đường bị mất, số hécta lúa bị vùi lấp hay giá trị tài sản thiệt hại, mà còn là những sinh mạng đã không thể trở về.
Theo số liệu của Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai cập nhật đến chiều 19/7, mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét và sạt lở đất tại Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên và Sơn La đã làm 5 người chết, 3 người mất tích và 10 người bị thương. Toàn vùng có 28 ngôi nhà bị sập, hơn 620 nhà bị hư hỏng, ngập nước hoặc phải di dời khẩn cấp; khoảng 699 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại. Tổng thiệt hại kinh tế bước đầu được ước tính khoảng 271,64 tỷ đồng.
Đằng sau những con số ấy là một dải thiên tai kéo dài từ ngày 15 đến 19/7, khi mưa lớn liên tục trút xuống khu vực miền núi phía Bắc. Nước trên các sông, suối dâng nhanh; đất đá trên những sườn dốc ngấm no nước rồi đổ xuống các khu dân cư và đường giao thông. Những địa danh như: Mường Than, Pa Ủ, Than Uyên, Nậm Cuổi ở Lai Châu; Lao Chải, Khao Mang, Mù Cang Chải, Chế Tạo ở Lào Cai; cùng nhiều khu vực thuộc Điện Biên trở thành những điểm phải tổ chức sơ tán dân, tìm kiếm người mất tích, thông đường và khôi phục hạ tầng trong điều kiện thời tiết còn diễn biến phức tạp.
Lai Châu là địa phương chịu hậu quả nặng nề nhất. Đến sáng 18/7, tỉnh ghi nhận 4 người chết, 4 người mất tích và 8 người bị thương; thiệt hại kinh tế ước khoảng 190 tỷ đồng, riêng xã Mường Than khoảng 120 tỷ đồng. Sau đó, lực lượng tìm kiếm phát hiện thêm một nạn nhân, đưa số liệu tổng hợp của đợt thiên tai tại bốn tỉnh đến chiều 19/7 lên 5 người chết và 3 người mất tích.
Mường Than trở thành tâm điểm của trận lũ quét. Báo cáo của địa phương cho thấy, thiên tai ảnh hưởng đến 899 hộ với 4.263 nhân khẩu tại các bản Chít, Nậm Sáng, Noong Thăng và Nậm Ngùa. Có 53 ngôi nhà bị hư hỏng, trong đó 20 căn bị cuốn trôi hoàn toàn; khoảng 300 ha lúa, hoa màu và diện tích nuôi trồng thủy sản bị vùi lấp hoặc cuốn trôi. Nhiều gia đình mất nhà, mất tư liệu sản xuất chỉ trong vài giờ.
Tại bản Chít, dòng lũ quét tràn xuống khu dân cư trong thời gian ngắn, để lại những lớp bùn đất dày và những nền nhà trơ lại giữa đá, gỗ, đồ dùng bị cuốn xô. Cũng từ đây, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và người dân tỏa đi tìm kiếm các nạn nhân mất tích, đào bới từng khu vực nghi có người bị vùi lấp, đồng thời mở lối đưa lương thực, nước uống và thuốc men đến các hộ đang phải sơ tán.
Không chỉ Mường Than, thiệt hại còn xuất hiện trên nhiều địa bàn của Lai Châu. Theo thống kê đến sáng 18/7, xã Pa Ủ có 4 nhà sập hoàn toàn, một nhà bị đổ tường; xã Than Uyên có 13 nhà bị ảnh hưởng do sạt lở và ngập nước; xã Nậm Cuổi có 7 nhà bị ảnh hưởng, trong khi 307 hộ dân và 2 điểm trường nằm trong khu vực có nguy cơ sạt lở trực tiếp. Riêng tại Mường Than, trước khi việc kiểm đếm được bổ sung đầy đủ, cơ quan chức năng đã ghi nhận 14 nhà sập hoàn toàn, 15 nhà hư hỏng một phần và 17 hộ nằm trong vùng nguy hiểm.
Trên những cánh đồng dưới chân núi, nước lũ và đất đá phủ lên diện tích lúa đang sinh trưởng. Xã Than Uyên có 82,6 ha lúa vụ mùa bị ngập, sạt lở và vùi lấp; xã Pắc Ta có khoảng 10 ha lúa bị ngập; tại Pa Ủ, ruộng, ao cá, gia súc và gia cầm của người dân cũng bị cuốn trôi hoặc chết. Với những hộ sống chủ yếu dựa vào vài thửa ruộng, ao cá và đàn vật nuôi, thiệt hại ấy đồng nghĩa sinh kế của cả gia đình bị đẩy vào tình trạng bấp bênh sau khi lũ rút.
Mưa lũ đồng thời đánh vào hệ thống giao thông vốn đã mong manh trên địa hình núi cao, chia cắt. Các tuyến quốc lộ 4H, 12, 32, 279 cùng hàng loạt tuyến tỉnh lộ ở Lai Châu xuất hiện sạt lở, đất đá tràn mặt đường và ách tắc cục bộ. Tại Km76+250 Quốc lộ 12, đoạn qua xã Lê Lợi, sạt lở làm mất hoàn toàn khoảng 30m mặt đường. Đường vào bản Xà Hồ, xã Pa Ủ, bị cuốn mất một nửa mặt đường trên chiều dài khoảng 30m. Riêng xã Nậm Cuổi ghi nhận 31 vị trí sạt lở, với khoảng 3.500m³ đất đá đổ xuống các tuyến giao thông.
Tại Lào Cai, mưa lớn gây sạt lở trên diện rộng ở các xã Lao Chải, Khao Mang, Mù Cang Chải và Chế Tạo, làm hư hỏng nhà cửa, công trình hạ tầng và chia cắt nhiều tuyến đường. Nhiều hộ dân phải rời nhà đến nơi an toàn khi các vết nứt xuất hiện trên sườn đồi hoặc đất đá bắt đầu tràn xuống khu dân cư. Các điểm sạt lở trên Quốc lộ 32, Quốc lộ 279 và Đường tỉnh 175B khiến việc đi lại, vận chuyển hàng cứu trợ và tiếp cận một số khu vực gặp nhiều khó khăn.
Điện Biên tuy không chịu thiệt hại về người nghiêm trọng như Lai Châu trong đợt này, nhưng mưa lớn cũng làm nhiều nhà dân bị hư hỏng, ngập nước hoặc đe dọa bởi sạt lở; đường giao thông xuất hiện nhiều điểm đất đá tràn xuống mặt đường. Trong bức tranh chung của bốn tỉnh, Điện Biên có 27 nhà hư hỏng, 20 nhà bị ảnh hưởng bởi ngập hoặc sạt lở và 3 hộ phải di dời khẩn cấp.
Trước tình hình khẩn cấp, các địa phương huy động lực lượng theo phương châm “bốn tại chỗ”. Riêng tại Lai Châu, trong hai ngày 17 và 18/7 đã có khoảng 800 lượt người và 50 lượt phương tiện, máy móc tham gia tìm kiếm người mất tích, đào hót đất đá, mở đường tạm và di chuyển người dân khỏi vùng nguy hiểm. Có 26 hộ tại nhiều xã được sơ tán khẩn cấp; riêng Mường Than, 336 người dân được đưa đến nơi an toàn.
Đến ngày 19/7, quy mô lực lượng tại tâm lũ tiếp tục được tăng cường lên hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an, kiểm lâm, dân quân, đoàn viên thanh niên và lực lượng tại chỗ. Mười một máy xúc cùng hàng chục phương tiện cơ giới được đưa vào đào hót đất đá, khơi thông dòng chảy và mở đường tiếp cận các khu vực bị chia cắt. Trong điều kiện nền đất vẫn nhão, nước suối còn cao và nguy cơ sạt lở thứ cấp luôn hiện hữu, việc tìm kiếm từng người mất tích, tiếp tế cho từng khu dân cư trở thành một cuộc chạy đua với thời gian.
Ngày 19/7, khi kiểm tra công tác khắc phục hậu quả tại Mường Than, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu tiếp tục tập trung tối đa lực lượng tìm kiếm người mất tích; chăm lo đời sống các hộ phải sơ tán, không để người dân thiếu lương thực, nước sạch, thuốc chữa bệnh và chỗ ở an toàn. Đó cũng là ưu tiên lớn nhất tại các vùng bị thiên tai lúc này: cứu người, giữ an toàn cho những người còn lại và từng bước nối lại những con đường đã bị bùn đá cắt đứt.
Nhưng khi các đoàn cứu hộ vẫn đang lần theo những vệt bùn đất và máy xúc còn miệt mài mở đường vào bản, mưa chưa thực sự kết thúc. Nước vẫn tiếp tục ngấm sâu vào các tầng đất phong hóa; những sườn đồi tưởng đã đứng yên vẫn có thể chuyển động bất cứ lúc nào. Sau bốn ngày mưa, Tây Bắc không chỉ đối mặt với nhiệm vụ khắc phục hậu quả trước mắt, mà còn phải trả lời một câu hỏi lớn hơn: điều gì đã khiến những sườn núi đồng loạt mất khả năng giữ đất, để một trận mưa có thể nhanh chóng biến thành lũ quét và những vụ sạt lở mang sức tàn phá khốc liệt?
Khi những sườn núi đồng loạt “buông” đất
Những ngày giữa tháng 7, khi lực lượng cứu hộ vẫn đang đào bới từng mét khối đất đá ở Mường Than để tìm kiếm người mất tích, một câu hỏi được nhiều người đặt ra là: điều gì khiến chỉ sau vài ngày mưa, hàng chục điểm lũ quét và sạt lở lại xuất hiện gần như cùng lúc trên một dải rộng từ Lai Châu, Điện Biên đến Lào Cai?. Câu trả lời không nằm ở một trận mưa đơn lẻ.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, từ ngày 15 đến 19/7, khu vực Tây Bắc chịu tác động của rãnh áp thấp kết hợp hội tụ gió trên cao, tạo nên một đợt mưa vừa, mưa to đến rất to kéo dài nhiều ngày. Nhiều nơi xuất hiện mưa cường suất lớn trong thời gian ngắn, làm nước tập trung nhanh trên các lưu vực nhỏ, kích hoạt lũ quét và sạt lở đất. Trong các bản tin phát đi liên tục những ngày 16-19/7, cơ quan khí tượng đều cảnh báo nguy cơ rất cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai và Sơn La. Nhưng mưa lớn mới chỉ là điều kiện kích hoạt. Điều đáng lo hơn nằm ở chính những sườn núi đã ngậm nước nhiều ngày.
Theo phân tích của các chuyên gia địa chất và phòng chống thiên tai, đất ở vùng núi Tây Bắc chủ yếu là đất phong hóa dày, hình thành trên nền đá biến chất và đá magma. Trong điều kiện bình thường, lớp đất này vẫn đủ khả năng bám giữ trên sườn dốc nhờ lực ma sát và liên kết giữa các hạt đất. Tuy nhiên, khi mưa kéo dài, nước thấm sâu vào các khe nứt, làm tăng khối lượng đất, giảm lực liên kết và giảm khả năng chịu cắt của mái dốc. Chỉ cần thêm một trận mưa lớn hoặc dòng nước tập trung mạnh là cả khối đất đá có thể trượt xuống trong vài chục giây. Đó cũng là lý do nhiều vụ sạt lở xảy ra khi trời không còn mưa lớn. Đất đã "no nước", các khe nứt tiếp tục mở rộng, chân taluy bị dòng chảy xói rỗng và toàn bộ sườn dốc mất ổn định.
Quan sát bản đồ các điểm thiên tai trong đợt mưa này có thể thấy một điểm chung: phần lớn đều nằm trên các lưu vực suối nhỏ, độ dốc lớn và địa hình bị chia cắt mạnh. Từ Mường Than, Pa Ủ, Than Uyên của Lai Châu đến Lao Chải, Khao Mang, Chế Tạo của Lào Cai hay nhiều xã vùng cao của Điện Biên, các khu dân cư đều hình thành dọc theo thung lũng hoặc ven các con suối. Đây là nơi thuận lợi cho sinh hoạt, sản xuất và giao thông, nhưng cũng là khu vực chịu tác động trực tiếp khi lũ quét xuất hiện.
Khác với lũ trên các con sông lớn có thời gian báo trước, lũ quét ở vùng núi thường hình thành rất nhanh. Chỉ trong vài giờ, lượng nước lớn từ các sườn núi dốc đổ xuống những khe suối hẹp, mang theo đất đá, cây gỗ và vật liệu trên đường đi. Chính hỗn hợp này tạo nên sức công phá rất lớn, cuốn trôi nhà cửa, phá hỏng cầu cống và vùi lấp toàn bộ khu vực nằm trên đường dòng chảy.
Nhìn từ Lai Châu, có thể thấy rõ mức độ cộng hưởng của nhiều yếu tố bất lợi. Mường Than nằm trong thung lũng hẹp, bao quanh là các sườn núi có độ dốc lớn. Sau nhiều ngày mưa liên tiếp, lượng nước từ các sườn dốc tập trung về hệ thống suối nhỏ, làm xuất hiện lũ quét và hàng loạt điểm sạt lở. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều khu dân cư bị chia cắt, giao thông tê liệt và hàng trăm hecta đất sản xuất bị vùi lấp.
Điều đáng chú ý là phần lớn các điểm sạt lở lớn đều xảy ra dọc theo các tuyến giao thông miền núi. Quốc lộ 4H, Quốc lộ 12, Quốc lộ 32, Quốc lộ 279 và nhiều tuyến tỉnh lộ xuất hiện hàng chục điểm đất đá tràn xuống mặt đường, taluy dương sạt lở, taluy âm bị xói lở hoặc mất nền đường. Có nơi, cả đoạn đường dài hàng chục mét bị cuốn trôi, khiến máy móc và lực lượng cứu hộ không thể tiếp cận hiện trường trong nhiều giờ.
Đây không chỉ là câu chuyện của riêng đợt mưa tháng 7. Những năm gần đây, miền núi phía Bắc liên tục ghi nhận các hiện tượng mưa cực đoan với cường độ lớn trong thời gian ngắn. Theo đánh giá của cơ quan khí tượng, biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tần suất và cường độ các trận mưa lớn cục bộ. Thay vì những đợt mưa kéo dài với cường độ trung bình, nhiều địa phương phải đối mặt với các trận mưa tập trung trong vài giờ nhưng lượng nước rất lớn, vượt khả năng tiêu thoát tự nhiên của các lưu vực nhỏ.
Bên cạnh yếu tố tự nhiên, thực tế cũng cho thấy sức chống chịu của nhiều khu dân cư miền núi còn hạn chế. Không ít bản làng vẫn nằm dưới chân taluy, ven suối hoặc trong các thung lũng hẹp - những vị trí đã được cảnh báo có nguy cơ cao xảy ra lũ quét và sạt lở. Nhiều tuyến đường giao thông được mở men theo sườn núi, trong khi hệ thống thoát nước, gia cố mái dốc và quan trắc biến dạng đất đá chưa theo kịp yêu cầu thực tế. Khi mưa lớn kéo dài, những "điểm yếu" này nhanh chóng bộc lộ.
Trong chuyến kiểm tra hiện trường tại Mường Than ngày 19/7, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhận định rằng việc trước mắt là tập trung cứu người, khắc phục giao thông và ổn định đời sống người dân; song về lâu dài, cần rà soát lại toàn bộ các khu dân cư nằm trong vùng có nguy cơ lũ quét, sạt lở để có phương án di dời phù hợp, không để người dân tiếp tục sinh sống ở những nơi mất an toàn. Quan điểm này cũng là định hướng mà Bộ nhiều lần nhấn mạnh trong công tác phòng, chống thiên tai những năm gần đây: chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro dựa trên dự báo, cảnh báo sớm và quy hoạch không gian an toàn.
Thiên tai không thể ngăn chặn, nhưng thiệt hại có thể giảm nếu các nguy cơ được nhận diện sớm và những quyết định di dời, quy hoạch, đầu tư hạ tầng được thực hiện trước khi mưa đến. Sau đợt lũ quét và sạt lở giữa tháng 7, bài học ấy thêm một lần hiện rõ trên những sườn núi Tây Bắc: điều đáng sợ không chỉ là lượng mưa lớn, mà là khi những quả đồi đã ngậm nước đến giới hạn, chỉ cần một cơn mưa nữa cũng đủ để cả khối đất khổng lồ đồng loạt trượt xuống, cuốn theo mọi thứ trên đường đi.
Giữ rừng để giữ đất, giữ đất để giữ sự sống
Sau những ngày mưa dữ, điều còn lại trên nhiều sườn núi Tây Bắc không chỉ là những vệt sạt lở kéo dài hàng trăm mét hay những ngôi nhà bị đất đá vùi lấp. Điều còn lại còn là một lời cảnh báo ngày càng rõ ràng hơn về giới hạn chịu đựng của tự nhiên.
Những trận lũ quét và sạt lở đất xảy ra tại Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai trong những ngày giữa tháng 7 không phải là hiện tượng cá biệt. Trong nhiều năm trở lại đây, miền núi phía Bắc liên tiếp hứng chịu các hình thái thiên tai cực đoan với tần suất ngày càng dày hơn, phạm vi rộng hơn và mức độ tàn phá lớn hơn. Khi biến đổi khí hậu làm gia tăng những trận mưa có cường suất lớn trong thời gian ngắn, nguy cơ lũ quét và sạt lở đất không còn là kịch bản dự báo mà đã trở thành thực tế thường xuyên. Điều đó cũng đồng nghĩa, cách ứng xử với thiên tai không thể dừng lại ở việc khắc phục hậu quả sau mỗi mùa mưa.
Thực tế cho thấy, nhiều bản làng vùng cao vẫn đang nằm dưới chân các sườn dốc, ven suối hoặc trong các thung lũng hẹp. Đó là những vị trí thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, nhưng cũng là nơi hứng chịu đầu tiên khi thiên tai xảy ra. Trong bối cảnh các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng khó lường, việc rà soát, quy hoạch lại dân cư, đầu tư hệ thống cảnh báo sớm và xây dựng các phương án sơ tán chủ động không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo vệ tính mạng người dân. Nhưng nếu chỉ nhìn câu chuyện từ góc độ quy hoạch hay hạ tầng thì vẫn chưa đủ. Điều mà đợt mưa lũ này gợi lên sâu sắc hơn cả chính là giá trị của rừng.
Trong tự nhiên, rừng không thể ngăn hoàn toàn những trận mưa lớn hay triệt tiêu mọi nguy cơ sạt lở. Tuy nhiên, một hệ sinh thái rừng khỏe mạnh với tầng cây, thảm thực bì và bộ rễ phát triển có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ đất, tăng khả năng thấm nước, giảm tốc độ dòng chảy mặt và hạn chế xói mòn. Rừng không phải là "tấm lá chắn tuyệt đối" trước thiên tai, nhưng là một trong những yếu tố quan trọng giúp giảm mức độ và quy mô thiệt hại, nhất là đối với những lưu vực đầu nguồn. Bởi vậy, bảo vệ rừng hôm nay không chỉ là bảo vệ đa dạng sinh học hay giữ màu xanh cho núi đồi. Đó còn là bảo vệ chính những bản làng dưới chân núi, những cánh đồng trong thung lũng và những tuyến giao thông huyết mạch của vùng cao.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ. Tuy nhiên, trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ diện tích rừng hiện có mà còn phải nâng cao chất lượng rừng, phục hồi những khu vực suy thoái, tăng khả năng chống chịu của hệ sinh thái và quản lý bền vững các lưu vực đầu nguồn.
Cùng với đó là nâng cao nhận thức cộng đồng. Đối với người dân miền núi, việc theo dõi cảnh báo mưa lớn, chấp hành lệnh sơ tán, không quay trở lại khu vực nguy hiểm khi chưa bảo đảm an toàn, không lấn chiếm hành lang thoát lũ, không tác động làm mất ổn định mái dốc... cần trở thành kỹ năng ứng phó thường xuyên, giống như việc chuẩn bị lương thực trước mùa mưa hay gia cố nhà cửa khi bão đến.
Thích ứng với biến đổi khí hậu vì thế không còn là khái niệm của các hội nghị hay chiến lược dài hạn. Với đồng bào vùng cao, thích ứng bắt đầu từ những việc rất cụ thể: biết nơi mình đang sống có nguy cơ gì, biết khi nào phải rời khỏi nhà, biết bảo vệ cánh rừng đầu nguồn như bảo vệ chính nguồn nước và mảnh đất nuôi sống gia đình mình.
Sau mỗi trận lũ, những con đường sẽ được thông, những ngôi nhà sẽ được dựng lại và những cánh đồng rồi sẽ xanh trở lại. Nhưng thiên nhiên cũng đang gửi đi một thông điệp rất rõ ràng: nếu con người không biết tôn trọng quy luật của núi rừng, những mất mát ấy sẽ còn lặp lại.
"Khi núi không còn giữ đất" vì thế không chỉ là tên gọi của một đợt thiên tai. Đó là lời nhắc nhở về trách nhiệm của cả cộng đồng trong việc gìn giữ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, quy hoạch phát triển hài hòa với tự nhiên và chủ động thích ứng với một khí hậu đang thay đổi nhanh hơn những gì chúng ta từng hình dung.
Giữ được rừng là giữ được đất. Giữ được đất là giữ được nguồn nước. Và giữ được nguồn nước, giữ được những sườn núi xanh cũng chính là giữ sự bình yên cho những bản làng Tây Bắc hôm nay và cho các thế hệ mai sau.