Kinh tế biển từ lâu giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế Quảng Ngãi. Sau khi hợp nhất với Kon Tum, không gian phát triển của tỉnh được mở rộng, tạo thêm điều kiện kết nối biển với cao nguyên và hành lang kinh tế Đông - Tây. Tuy nhiên, những lợi thế đó vẫn chưa được khai thác tương xứng, đòi hỏi Quảng Ngãi phải chuyển mạnh sang mô hình phát triển hiện đại, xanh và có tính liên kết cao hơn.
|
LTS: Ngày 20/7/2026, Tỉnh ủy Quảng Ngãi ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định kinh tế biển là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng. Ngày 28/7/2026, Trung ương ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, mở ra yêu cầu mới trong khai thác và phát huy nguồn lực biển. Trong bối cảnh ấy, Quảng Ngãi có điều kiện phát huy lợi thế Khu kinh tế Dung Quất, cảng biển, logistics, du lịch biển đảo và thủy sản; đồng thời kết nối không gian biển với đồng bằng, cao nguyên sau hợp nhất. Tuyến bài “Định hình cực tăng trưởng mới cho kinh tế biển Quảng Ngãi” tập trung làm rõ những kết quả, điểm nghẽn; vai trò hạt nhân của Khu kinh tế Dung Quất, tiềm năng du lịch biển đảo Lý Sơn và định hướng tổ chức lại không gian phát triển. Qua đó, nhận diện những dư địa và động lực mới để kinh tế biển trở thành trụ cột tăng trưởng của Quảng Ngãi. |
Trong quá trình phát triển, biển đã trở thành một trong những không gian kinh tế quan trọng nhất của Quảng Ngãi. Công nghiệp, cảng biển, logistics, thủy sản, thương mại và du lịch tập trung chủ yếu ở khu vực ven biển, tạo ra sức lan tỏa lớn đối với kinh tế - xã hội của tỉnh.
Thực tế này được thể hiện rõ qua kết quả tổng kết Nghị quyết số 07-NQ/TU của Ban thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi về tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế biển giai đoạn 2021 - 2025. Theo đánh giá của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, kinh tế biển và vùng ven biển tiếp tục giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội. Tổng giá trị sản phẩm của các địa phương có biển chiếm 90,9% tổng giá trị sản phẩm toàn tỉnh.
Đây là con số cho thấy vị trí đặc biệt của không gian ven biển trong nền kinh tế Quảng Ngãi. Khu kinh tế Dung Quất tiếp tục là trung tâm công nghiệp lớn, trong khi hệ thống cảng biển tạo điều kiện kết nối sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế. Ở phía Nam, các vùng ven biển phát huy lợi thế về thủy sản, dịch vụ, đô thị và du lịch. Đặc khu Lý Sơn từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại - dịch vụ, tạo thêm dư địa phát triển kinh tế biển đảo.
Cùng với phát triển kinh tế, các địa phương ven biển cũng có những chuyển biến về đời sống và môi trường. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt khoảng 90%. Hai trong ba khu công nghiệp ven biển đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường. Công tác bảo tồn hệ sinh thái biển, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống người dân được quan tâm.
Những kết quả này cho thấy kinh tế biển không chỉ đóng góp vào tăng trưởng mà còn tạo việc làm, thúc đẩy đô thị hóa, phát triển dịch vụ và cải thiện đời sống cộng đồng ven biển.
Mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng trên thực tế, một số ngành kinh tế biển của Quảng Ngãi vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Du lịch biển, đảo chưa tạo được bước đột phá; sự liên kết giữa các điểm đến còn hạn chế, sản phẩm du lịch đường thủy chưa hình thành rõ nét. Lợi thế cảnh quan, văn hóa, hệ sinh thái biển đảo chưa được chuyển hóa đầy đủ thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Trong khi đó, hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên biển còn thấp. Hạ tầng ven biển tại một số khu vực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, khả năng kết nối giữa các không gian kinh tế còn hạn chế.
Đối với thủy sản, yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển ngày càng rõ. Việc khai thác nguồn lợi tự nhiên cần được kiểm soát chặt chẽ hơn, trong khi nuôi biển, chế biến sâu và dịch vụ hậu cần nghề cá vẫn còn nhiều dư địa. Tình trạng một bộ phận ngư dân chưa chấp hành đầy đủ các quy định chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) tiếp tục là nút thắt, cản trở sự phát triển bền vững của ngành thủy sản.
Áp lực môi trường cũng đặt ra ngày càng rõ. Một số khu vực ven biển còn xảy ra ô nhiễm; xói lở bờ biển, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống người dân. Điều đó cho thấy mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và mở rộng quy mô sản xuất không còn phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Vấn đề đặt ra với Quảng Ngãi không phải là có khai thác được lợi thế biển hay không, mà là khai thác như thế nào để tạo giá trị cao hơn và bền vững hơn.
Sau khi hợp nhất với Kon Tum, Quảng Ngãi có điều kiện đặc biệt để tổ chức lại không gian phát triển. Một đầu là biển với hệ thống cảng, khu kinh tế, công nghiệp và du lịch; một đầu là cao nguyên với rừng, dược liệu, nông nghiệp và các sản phẩm đặc trưng. Giữa hai không gian đó là các tuyến giao thông và hành lang kinh tế có khả năng kết nối hàng hóa, dịch vụ và du lịch. Đây chính là dư địa để kinh tế biển được nhìn nhận rộng hơn, không bó hẹp trong phạm vi các địa phương ven biển.
Nghị quyết số 12-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã thể hiện rõ cách tiếp cận này. Nghị quyết xác định phát triển kinh tế biển nhanh, bền vững trở thành động lực quan trọng của tỉnh; khai thác hiệu quả tài nguyên biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao đời sống người dân.
Điểm đáng chú ý là kinh tế biển được đặt trong mối liên kết với công nghiệp, logistics, thương mại, du lịch, thủy sản và không gian phát triển phía Tây. Quảng Ngãi hướng đến phát huy vai trò cửa ngõ ra biển của khu vực Tây Nguyên, đồng thời tăng cường liên kết vùng và mở rộng chuỗi giá trị.
Theo Nghị quyết 12, đến năm 2030, khu vực các xã, phường, đặc khu có biển đóng góp trên 65% tổng giá trị sản phẩm toàn tỉnh; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên; sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 267.882 tấn; 100% sản lượng thủy sản được kiểm soát, xác nhận nguồn gốc hợp pháp.
Các mục tiêu này cho thấy kinh tế biển trong giai đoạn mới không chỉ hướng tới tăng quy mô mà còn đặt ra yêu cầu quản trị tài nguyên, chuyển đổi công nghệ, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
Trong đó, Khu kinh tế Dung Quất được xác định là hạt nhân tăng trưởng; hệ thống cảng biển và logistics là nền tảng kết nối; Lý Sơn là cực phát triển du lịch biển đảo; thủy sản chuyển mạnh sang hướng hiện đại, bền vững; còn khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trở thành nền tảng xuyên suốt.
Như vậy, dư địa phát triển kinh tế biển của Quảng Ngãi vẫn rất lớn. Nhưng để biến dư địa thành động lực tăng trưởng, tỉnh phải giải quyết đồng thời bài toán hạ tầng, liên kết không gian, chất lượng đầu tư, nguồn nhân lực và môi trường.
Đó cũng là yêu cầu đặt ra cho giai đoạn phát triển mới: Không chỉ khai thác biển, mà phải tổ chức lại không gian kinh tế quanh biển để tạo ra những chuỗi giá trị có sức cạnh tranh cao hơn.
Mời đón đọc Kỳ 2: Dung Quất - Hạt nhân của không gian kinh tế biển