Kỳ 2: Hiện thực hóa Nghị quyết 20: Từ quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh

Kỳ 2: Hiện thực hóa Nghị quyết 20: Từ quản trị tài nguyên đến phát triển kinh tế biển xanh

Thứ hai, 10/8/2026, 06:53 (GMT+7)
logo Không gian biển chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi những chủ trương lớn của Đảng được cụ thể hóa bằng chính sách, chương trình và những hành động thực chất. Từ hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển, điều tra cơ bản, chuyển đổi số, phát triển nuôi biển công nghệ cao đến bảo tồn hệ sinh thái và xây dựng kinh tế biển xanh, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước hiện thực hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW, hướng tới cách tiếp cận mới: khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên và kiến tạo những giá trị phát triển lâu dài từ biển.
khu-be-ca-dao-ong-cu-qn-7-1578629497013_1786094773.webp
Các khu vực nuôi biển tại Quảng Ninh từng bước được quy hoạch theo hướng hiện đại, góp phần phát triển kinh tế biển bền vững

Hoàn thiện thể chế để biển trở thành không gian phát triển

Trời vừa hửng sáng trên vùng biển Quảng Ninh. Ngoài khơi, những dãy lồng nuôi cá biển công nghệ cao nối tiếp nhau, xen giữa là luồng hàng hải, khu vực dành cho dịch vụ hậu cần nghề cá và những khoảng không gian được quy hoạch cho phát triển điện gió ngoài khơi. Nhìn từ trên cao, vùng biển ấy giống như một "bản đồ phát triển" được sắp đặt có chủ đích, thay vì những hoạt động tự phát, manh mún như nhiều năm trước.

Đằng sau sự thay đổi ấy là quá trình hoàn thiện thể chế, quy hoạch và xây dựng cơ sở dữ liệu về biển. Đây cũng là những nền tảng quan trọng để cụ thể hóa các định hướng tại Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Trong phát triển kinh tế biển, hạ tầng thường là những yếu tố dễ nhận thấy nhất. Một cảng biển mới, một khu nuôi biển quy mô lớn hay một dự án điện gió ngoài khơi đều tạo ra những dấu ấn rõ nét. Tuy nhiên, theo các nhà quản lý, điều quyết định sự phát triển lâu dài lại nằm ở phần ít nhìn thấy hơn: thể chế, quy hoạch và cơ chế quản trị.

Đó là lý do ngay sau khi Nghị quyết số 20 được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định nhiệm vụ ưu tiên là cụ thể hóa các định hướng của Trung ương thành chương trình hành động của ngành; đồng thời rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách về quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, quy hoạch không gian biển, điều tra cơ bản và sử dụng bền vững tài nguyên biển.

Nếu như trước đây, việc khai thác và sử dụng biển chủ yếu được nhìn từ góc độ từng ngành, từng địa phương thì nay yêu cầu đặt ra là phải quản trị thống nhất toàn bộ không gian biển quốc gia. Điều đó đồng nghĩa với việc mỗi dự án phát triển, mỗi khu vực khai thác hay bảo tồn đều phải được xem xét trong tổng thể lợi ích quốc gia, trên cơ sở khoa học, dữ liệu và sức chịu tải của hệ sinh thái.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung triển khai là hoàn thiện Quy hoạch không gian biển quốc gia. Quy hoạch không chỉ xác định khu vực ưu tiên cho từng ngành, mà còn tạo cơ sở để kết nối phát triển thủy sản, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải, du lịch, bảo tồn thiên nhiên và quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể thống nhất. Đây là công cụ quan trọng để hiện thực hóa yêu cầu "quản trị biển hiện đại" mà Nghị quyết 20 đã đặt ra.

Song song với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu biển và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên. Từ dữ liệu về địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học đến thông tin về môi trường, nguồn lợi thủy sản, hiện trạng sử dụng không gian biển đều được từng bước chuẩn hóa và tích hợp. Khi dữ liệu trở thành nền tảng của quản trị, mỗi quyết định quản lý sẽ có thêm cơ sở khoa học, minh bạch và hiệu quả hơn.

Nhìn rộng hơn, đây không chỉ là công việc của một cơ quan quản lý. Đó là quá trình tạo dựng "hạ tầng mềm" cho phát triển biển trong nhiều thập niên tới. Khi không gian biển được tổ chức khoa học, thể chế được hoàn thiện và dữ liệu được kết nối, những ngành kinh tế mới như nuôi biển công nghệ cao, điện gió ngoài khơi, kinh tế tuần hoàn hay dịch vụ hệ sinh thái biển mới có nền tảng để phát triển bền vững.

Trên nền tảng đó, các chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Môi trường đang hướng tới một cách tiếp cận mới trong phát triển kinh tế biển: Không chỉ chú trọng sản lượng khai thác hay số lượng dự án đầu tư, mà ngày càng coi trọng giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng bảo vệ môi trường và chất lượng sống của cộng đồng ven biển.

anh-2_1786094848.png
Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra định hướng phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, gắn khai thác bền vững tài nguyên với bảo tồn hệ sinh thái, đổi mới công nghệ và nâng cao sinh kế cho cộng đồng ven biển

Hành động cụ thể hiện thực hóa Nghị quyết 20 

Khi những chuyến tàu cá rẽ sóng trở về sau nhiều ngày bám biển, ít ai nghĩ rằng phía sau từng mẻ lưới là cả một quá trình đổi mới trong quản lý và quản trị biển. Từ kiểm soát hành trình khai thác, xác nhận nguồn gốc thủy sản tại cảng cá đến quy hoạch vùng nuôi biển, bảo vệ rừng ngập mặn hay phục hồi hệ sinh thái ven bờ, tất cả đều đang được kết nối trong một mục tiêu chung: Cụ thể hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW bằng những chương trình hành động cụ thể, có thể đo đếm qua hiệu quả quản lý và bằng chính cuộc sống của người dân vùng biển.

Nếu như trước đây, các hoạt động trên biển chủ yếu được quản lý theo từng lĩnh vực riêng lẻ, yêu cầu đặt ra hiện nay là tổ chức đồng bộ từ quy hoạch, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đến phát triển các ngành kinh tế biển. Điều đó đòi hỏi ngành Nông nghiệp và Môi trường không chỉ làm tốt chức năng quản lý nhà nước mà còn phải đóng vai trò kiến tạo, kết nối và điều phối để các nguồn lực từ biển được khai thác hiệu quả, bền vững hơn.

Một trong những nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu là hoàn thiện nền tảng quản trị tài nguyên biển. Điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu biển, quy hoạch không gian biển quốc gia và quản lý tổng hợp vùng bờ không còn là những công việc mang tính kỹ thuật thuần túy, mà trở thành cơ sở để phân bổ hợp lý không gian phát triển giữa các ngành kinh tế, giữa khai thác và bảo tồn, giữa phát triển trước mắt và lợi ích lâu dài. Mỗi vùng biển được quy hoạch rõ chức năng sẽ tạo điều kiện để giảm chồng lấn trong sử dụng tài nguyên, hạn chế xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Trên cơ sở đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và hiện đại. Trong lĩnh vực thủy sản, trọng tâm không còn là tăng sản lượng khai thác bằng mọi giá, mà là cơ cấu lại nghề cá theo hướng có trách nhiệm, bảo vệ nguồn lợi và nâng cao giá trị gia tăng. Việc kiểm soát hoạt động khai thác, tăng cường chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cùng với phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc đang góp phần xây dựng hình ảnh một nghề cá minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Song hành với cơ cấu lại nghề cá là định hướng phát triển nuôi biển quy mô lớn, ứng dụng khoa học và công nghệ, từng bước chuyển từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa gắn với chuỗi giá trị. Đây không chỉ là giải pháp giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên mà còn mở ra không gian sinh kế mới cho người dân ven biển. Khi nuôi biển được tổ chức theo quy hoạch, có hạ tầng đồng bộ, có kiểm soát môi trường và liên kết với chế biến, tiêu thụ, giá trị kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích mặt nước sẽ được nâng lên, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

Nếu phát triển kinh tế là một trụ cột thì bảo vệ môi trường và phục hồi hệ sinh thái chính là điều kiện để trụ cột ấy đứng vững. Những cánh rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng đất ngập nước ven biển không chỉ là tài sản thiên nhiên quý giá mà còn là “lá chắn xanh” trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xói lở bờ biển.

Bởi vậy, cùng với phát triển kinh tế biển, phục hồi hệ sinh thái, giảm ô nhiễm môi trường biển, kiểm soát rác thải nhựa đại dương và bảo tồn đa dạng sinh học được đặt ở vị trí quan trọng trong quá trình triển khai Nghị quyết 20. Tư duy phát triển vì thế không còn được hiểu là mở rộng khai thác, mà là tạo ra nhiều giá trị hơn trên cơ sở sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, đồng thời gìn giữ vốn tự nhiên cho các thế hệ mai sau.

Một điểm đáng chú ý trong các chương trình hành động của ngành là đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực của quản trị biển hiện đại. Dữ liệu điều tra cơ bản, quan trắc môi trường, giám sát hoạt động khai thác, quản lý vùng nuôi hay theo dõi diễn biến tài nguyên biển đang từng bước được số hóa, tạo nền tảng để các quyết định quản lý ngày càng chính xác và minh bạch hơn. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, việc phân bổ không gian biển, phát triển các ngành kinh tế hay bảo vệ các hệ sinh thái có thêm cơ sở khoa học, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm thiểu rủi ro trong quá trình phát triển.

Quan trọng hơn, những chương trình hành động ấy không dừng lại ở kế hoạch. Mục tiêu cuối cùng vẫn là tạo ra những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân. Đó là khi ngư dân có thể yên tâm vươn khơi trên cơ sở nguồn lợi được bảo vệ; người nuôi biển có điều kiện đầu tư sản xuất theo hướng hiện đại; cộng đồng ven biển được hưởng lợi từ môi trường trong lành và hệ sinh thái được phục hồi; doanh nghiệp có thêm cơ hội phát triển trong một môi trường đầu tư minh bạch và ổn định.

Từ những chuyển động đang diễn ra trên các vùng biển có thể thấy, việc triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, tổ chức lại các ngành kinh tế biển và xây dựng nền tảng cho một nền kinh tế biển xanh, hiện đại và bền vững. Đó cũng là nền tảng để từng bước hình thành một nền kinh tế biển xanh, hiện đại và có sức cạnh tranh, qua đó hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

1_1786095642.png

Đồng bộ hành động đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống

Giữa trùng khơi, mỗi con tàu chỉ có thể đi đúng hướng khi có hải đồ và tín hiệu dẫn đường. Trên hành trình hiện thực hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW cũng vậy, những mục tiêu lớn cần được cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách, và cơ chế phối hợp đồng bộ giữa Trung ương và địa phương, giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng ngư dân.

Nếu như trước đây, phát triển biển thường được nhìn nhận dưới góc độ của từng ngành, từng địa phương thì nay, yêu cầu đặt ra hiện nay là đổi mới tư duy tổ chức thực hiện theo hướng tổng thể và liên ngành, lấy tài nguyên biển làm nền tảng, lấy môi trường biển làm điều kiện và lấy người dân làm trung tâm của quá trình phát triển. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 20-NQ/TW khi yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, vai trò ấy không chỉ dừng ở chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường, thủy sản hay biến đổi khí hậu mà còn ở khả năng điều phối để các chương trình về quản lý tổng hợp tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế ven biển được triển khai đồng bộ, thống nhất và hỗ trợ lẫn nhau.

Ở nhiều phương ven biển, cách làm này đang từng bước hình thành những mô hình quản trị mới. Chính quyền địa phương chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn trong quản lý vùng bờ; doanh nghiệp tham gia đầu tư vào các chuỗi giá trị thủy sản, nuôi biển và dịch vụ hậu cần; người dân chuyển từ khai thác tự phát sang sản xuất có tổ chức, tuân thủ quy hoạch và quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Mức độ chuyển biến giữa các địa phương có thể khác nhau nhưng đã cho thấy một thực tế rõ ràng: Phát triển biển chỉ bền vững khi tất  chủ thể, tất cả các ngành cùng hành động theo một mục tiêu chung.

Một điểm đáng chú ý trong Nghị quyết số 20 là yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và phát huy trách nhiệm của địa phương trong quản lý, khai thác tài nguyên biển. Đây là bước chuyển quan trọng, bởi Việt Nam có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km với điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên và đặc điểm phát triển rất khác nhau. Không thể áp dụng một mô hình chung cho tất cả các địa phương, nhưng cần có một định hướng chung và một cơ chế phối hợp thống nhất để mọi nguồn lực đều hướng đến phát triển bền vững.

Để làm được điều đó, bên cạnh hoàn thiện thể chế, ngành Nông nghiệp và Môi trường còn chú trọng vào năng lực tổ chức thực hiện. Mỗi chương trình hành động sau khi được ban hành đều phải có lộ trình, có trách nhiệm cụ thể, có cơ chế phối hợp và có tiêu chí đánh giá kết quả. 

Thực tiễn cho thấy, khi quy hoạch được triển khai đồng bộ, không gian phát triển có sơ sở được mở rộng; khi quản lý tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, sinh kế của cộng đồng ven biển có điều kiện ổn định hơn; và khi người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển, những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Đó cũng là một trong những giá trị cốt lõi của Nghị quyết số 20-NQ/TW. Không chỉ mở ra một tầm nhìn mới về phát triển biển, Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu đổi mới cách tổ chức thực hiện, để mỗi chương trình hành động đều hướng đến hiệu quả thực chất, tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế biển xanh.

Khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh sẽ không thể hiện thực hóa chỉ bằng một vài công trình hay một vài dự án riêng lẻ. Đó là một quá trình đòi hỏi sự phối hợp của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, giới khoa học và chính những người dân đang ngày đêm gắn bó với biển.

Khi các chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục được triển khai đồng bộ, khi mỗi địa phương phát huy được lợi thế riêng trong định hướng phát triển chung của quốc gia, biển sẽ không chỉ được nhìn nhận như không gian sinh tồn hay nguồn tài nguyên cần khai thác, mà còn trở thành động lực tăng trưởng mới, không gian đổi mới sáng tạo và nền tảng để đất nước vững vàng bước vào giai đoạn phát triển mới.

Từ hoàn thiện thể chế, tổ chức lại không gian phát triển đến triển khai đồng bộ các chương trình về tài nguyên, môi trường, thủy sản và kinh tế biển xanh, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước cụ thể hóa những mục tiêu mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đã đặt ra. Qua đó, tạo nền tảng để biển thực sự trở thành nguồn lực phát triển bền vững của quốc gia, đồng thời mở ra không gian cho đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế.

Mời đón đọc Kỳ 3: Kiến tạo tương lai từ biển: Động lực mới cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình – phân tích những đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế biển thế hệ mới và các động lực chiến lược để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào giữa thế kỷ XXI.

Top of Form

Bottom of Form

 

Hồng Minh