Để hiện thực hóa mục tiêu nuôi biển chiếm 15% tổng giá trị sản xuất thủy sản vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chuyển dịch lịch sử: từ nuôi ven bờ sang nuôi công nghiệp xa bờ và nâng chuẩn toàn chuỗi giá trị theo các tiêu chuẩn xanh quốc tế. Tiếp tục cuộc trao đổi với Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, ông Paul-Antoine Croizé – Đồng Chủ tịch Tiểu ban Thực phẩm, Nông nghiệp và Nuôi trồng Thủy sản (FAABS) thuộc EuroCham đã phân tích sâu sắc các điều kiện thể chế tiên quyết để khơi thông dòng vốn công nghệ cao châu Âu, bài toán vượt rào cản tiêu chuẩn ESG để tận dụng EVFTA và định hình quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện.
PV: Nghị quyết 20-NQ/TW đặt mục tiêu nuôi biển chiếm 15% tổng giá trị sản xuất thủy sản đến năm 2030. Châu Âu có thế mạnh vượt trội về mô hình nuôi biển công nghiệp xa bờ (lồng nuôi thông minh chịu bão, số hóa quản lý dịch bệnh và thức ăn). Để thúc đẩy chuyển giao công nghệ này sang Việt Nam, các nhà đầu tư EU đang kỳ vọng những trợ lực gì về mặt cơ chế, chính sách, như quy hoạch giao khu vực biển dài hạn hay ưu đãi đầu tư công nghệ xanh?
Ông Paul-Antoine Croizé: Hiện tại, Việt Nam có khoảng 6.500 cơ sở nuôi ven bờ, 900 cơ sở vùng lộng và chỉ mới có khoảng 27 cơ sở nuôi biển xa bờ đúng nghĩa. Mục tiêu nuôi biển đạt 15% tổng giá trị sản lượng thủy sản vào năm 2030 tương đương quy mô 300.000 ha mặt nước, 12 triệu m³ lồng nuôi và sản lượng 1,45 triệu tấn đòi hỏi phải phát triển phân khúc nuôi công nghiệp xa bờ gần như từ đầu, với suất đầu tư trên mỗi tấn sản phẩm cao hơn nhiều lần nuôi ven bờ.
Các doanh nghiệp châu Âu sở hữu công nghệ lồng nhựa HDPE chìm linh hoạt chịu bão, kỹ thuật neo đậu ngoài khơi, hệ thống cho ăn tự động dựa trên cảm biến, kiểm soát dịch bệnh và quản trị trại nuôi số hóa.
Để dòng vốn này chảy mạnh vào Việt Nam, có ba điều kiện then chốt:
Đầu tiên là thời hạn giao vùng biển dài hạn: Cần giao khu vực biển với thời hạn ổn định từ 20 đến 30 năm, tương thích với vòng đời thu hồi vốn của các dự án nuôi biển công nghiệp thâm dụng vốn lớn.
Tiếp đến là chuẩn hóa quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Bộ quy chuẩn kỹ thuật nuôi biển mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện trong năm 2026 chính là tiền đề cốt lõi. Một công trình nuôi biển xa bờ chỉ có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng và hợp đồng bảo hiểm khi được thiết kế và vận hành theo tiêu chuẩn kỹ thuật được chứng nhận. Cơn bão Yagi năm 2024, từng tàn phá nhiều vùng nuôi tại Quảng Ninh, đã chứng minh rằng sản phẩm bảo hiểm rủi ro thiên tai là điều kiện bắt buộc đối với dòng vốn đầu tư châu Âu.
Cuối cùng là thủ tục hành chính minh bạch, nhất quán: Khảo sát Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) Quý II/2026 của EuroCham chỉ ra rằng 53% doanh nghiệp e ngại sự chậm trễ thủ tục hành chính và chính sách thiếu tính dự báo. Một hành lang pháp lý nhất quán cùng lộ trình chuyển tiếp hợp lý sẽ củng cố niềm tin vững chắc cho nhà đầu tư.
PV: Nuôi trồng và chế biến thủy sản xanh đòi hỏi phải hài hòa giữa tăng trưởng sản lượng và bảo vệ hệ sinh thái ven biển (rạn san hô, rừng ngập mặn). Ông nhìn nhận thế nào về khả năng của doanh nghiệp Việt Nam trong việc tích hợp các tiêu chuẩn ESG, các chứng nhận quốc tế như ASC (Aquaculture Stewardship Council), BAP (Best Aquaculture Practices) và giảm dấu chân carbon, để tận dụng tối đa lợi thế thuế quan từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)?
Ông Paul-Antoine Croizé: Năng lực của doanh nghiệp Việt Nam là rất thực chất, thậm chí dẫn đầu thế giới ở một số phân khúc. Riêng ngành cá tra, Việt Nam hiện sở hữu hơn 58 trang trại đạt chứng nhận ASC, cung cấp hơn 210.000 tấn sản phẩm trong năm 2024 cho 61 thị trường. Trên thực tế, phần lớn nguồn cung cá tra đạt chuẩn ASC toàn cầu đều đến từ Việt Nam. Các doanh nghiệp lớn trong ngành vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc và xử lý nước thải đạt chuẩn quốc tế mà nhà nhập khẩu châu Âu hoàn toàn yên tâm.
Khó khăn lớn nhất nằm ở các vùng nuôi tôm quy mô nhỏ, vùng nuôi phân tán, chi phí đánh giá chứng nhận quốc tế còn cao so với quy mô nông hộ, cũng như một số khác biệt giữa quy định sử dụng kháng sinh của quốc gia với tiêu chuẩn đánh giá của các tổ chức quốc tế. Kinh nghiệm của châu Âu cho thấy, giải pháp hiệu quả nhất là các tập đoàn chế biến đầu chuỗi đứng ra bảo trợ, tổ chức chứng nhận theo nhóm cho các hộ vệ tinh. Nhiều hội viên của EuroCham đang tham gia rất tích cực vào mô hình này.
Mặt khác, các nhà bán lẻ EU hiện không chỉ dừng lại ở các chứng chỉ tĩnh mà đòi hỏi dữ liệu động, cập nhật liên tục: từ dấu chân carbon trên mỗi tấn sản phẩm, nguồn gốc đạm thức ăn, chỉ số phát thải nước đến mức độ bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng nuôi.
Một số liệu đáng suy ngẫm: Nửa đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 5,8 tỷ USD (tăng 12,8%), nhưng kim ngạch sang EU chỉ duy trì ở mức 537 triệu USD. Lợi thế thuế quan từ EVFTA là vô cùng lớn; nút thắt để mở rộng thị phần sang EU hiện không nằm ở sự cạnh tranh về giá mà nằm ở mức độ hoàn thiện về chứng nhận sinh thái, giảm phát thải và tính minh bạch tuyệt đối về tính hợp pháp của sản phẩm.
PV: Các doanh nghiệp EU hiện đang quan tâm đến những cơ hội hợp tác cụ thể nào trong toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản Việt Nam, từ nghiên cứu con giống, sản xuất thức ăn sinh học, chế biến sâu, bảo quản lạnh sau thu hoạch đến logistics xanh?
Ông Paul-Antoine Croizé: Chúng tôi nhìn thấy cơ hội hợp tác sâu rộng trên toàn chuỗi giá trị:
Khâu đầu vào: Đẩy mạnh nghiên cứu di truyền giống bố mẹ kháng bệnh đặc hiệu (SPF); cung ứng thức ăn dinh dưỡng chức năng tuần hoàn (như đạm côn trùng thay thế bột cá tự nhiên); cung cấp giải pháp an toàn sinh học, vắc-xin tiên tiến hỗ trợ lộ trình giảm thiểu kháng sinh cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Kỹ thuật hạ tầng biển: Chuyển giao công nghệ lồng nuôi thông minh chịu bão, tàu dịch vụ ngoài khơi, hệ thống tuần hoàn nước (RAS) khép kín và xử lý nước thải hiện đại.
Chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn: Ứng dụng công nghệ chế biến hiện đại của châu Âu để tinh chế phụ phẩm tôm, cá tra thành các sản phẩm giá trị gia tăng cao như collagen, gelatin, dầu cá sinh học và đạm thủy phân thay vì bán phế phụ phẩm thô.
Logistics xanh và chuỗi cung ứng lạnh: Hợp tác nâng cấp kho lạnh thông minh, cơ sở hạ tầng cảng biển và quy hoạch không gian biển chuyên sâu nhằm tối ưu hóa chi phí và giảm dấu chân carbon trong chuỗi vận chuyển.
PV: EuroCham muốn gửi thông điệp hoặc khuyến nghị trọng tâm nào tới Chính phủ Việt Nam cũng như cộng đồng doanh nghiệp hai bên, nhằm cộng hưởng sức mạnh, cùng hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và phát triển bền vững?
Ông Paul-Antoine Croizé: Tôi xin tóm lược qua 3 thông điệp cốt lõi:
Tính bền bỉ và nhất quán: Thị trường châu Âu tìm kiếm sự ổn định theo thời gian. Hệ thống kiểm soát đội tàu và truy xuất nguồn gốc phải duy trì vận hành tin cậy, dữ liệu phải được xác minh độc lập và đủ năng lực thích ứng với các chuẩn mực kỹ thuật mới của thế giới.
Sự đồng hành giữa đầu tư và bảo tồn: Các điều kiện cần để thu hút vốn ngoại vào nuôi biển (quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng, giao vùng biển ổn định, giải pháp bảo hiểm rủi ro) cũng chính là những công cụ giúp ngành thủy sản tăng khả năng chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu. Trong lĩnh vực này, lợi ích kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường luôn song hành.
Tinh thần đối tác chiến lược: Doanh nghiệp châu Âu mong muốn hợp tác với Việt Nam trên tinh thần đồng hành chuyển đổi chiến lược dài hạn chứ không chỉ là quan hệ tìm nguồn cung ứng thuần túy. Đó là cam kết dài hạn thông qua chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và chú trọng hỗ trợ sinh kế cho ngư dân quy mô nhỏ bên cạnh khối công nghiệp lớn.
EuroCham khẳng định cam kết tiếp tục là cầu nối vững chắc thông qua đối thoại công - tư xây dựng với các cơ quan quản lý của Việt Nam, đồng thời chia sẻ thông tin khách quan, tích cực tới các thể chế EU. Chúng tôi tin tưởng rằng với quyết tâm chính trị mạnh mẽ và hành động đồng bộ, mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển của Việt Nam sẽ sớm trở thành hiện thực.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!