news
Xuất bản: Thứ năm, 24/9/2026, 05:39 (GMT+7)

thumb_1789722048.jpg

chen_1789722069.jpg

tit-1_1789722089.jpg

chen_1789722069.jpg

PV: Ông đánh giá thế nào về vai trò của thức ăn và dinh dưỡng trong việc phát triển nuôi biển hiện nay?

Thạc sỹ Trần Công Khôi: Ngày 28/7/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, trong đó có định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Theo Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045, ngành thủy sản Việt Nam đang chuyển mạnh từ mục tiêu tăng trưởng dựa vào sản lượng sang phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Đây là một quá trình chuyển biến mạnh mẽ. Trong đó, định hướng phát triển nuôi biển được xác định là một trong những động lực mới của ngành thủy sản. Hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản đang dựa trên một số nhóm đối tượng chủ lực như tôm, cá tra, cá biển… và một số đối tượng kinh tế khác được nuôi trong hồ chứa, vùng nước nội địa. Nuôi biển là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm, nhất là nuôi biển xa bờ theo quy mô công nghiệp, hiện đại, gắn với bảo vệ môi trường.

Những năm qua, nuôi biển đã đạt được những kết quả khá tích cực. Đặc biệt, từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1664 ngày 04/10/2021 về việc phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, lĩnh vực này có thêm cơ sở để phát triển.

chen_1789722069.jpg
pexels-quang-nguyen-vinh-222549-6348803-copy_1789722145.jpg
Những năm qua, nuôi biển đã đạt được những kết quả khá tích cực. (Ảnh minh họa Nguyễn Vinh Quang)

chen_1789722069.jpg

Tính đến năm 2025, thể tích lồng nuôi thủy sản biển đã đạt gần 10 triệu m³, tương đương khoảng 98% mục tiêu của Đề án đến năm 2030. Diện tích nuôi biển đạt khoảng 60.000 ha. Tổng sản lượng nuôi biển năm 2025 đạt khoảng 860.000 tấn, vượt mục tiêu đề ra.

Nhiều đối tượng chủ lực trong nuôi biển đang phát triển khá mạnh, trong đó có cá song, cá giò, tôm hùm… Năm 2025 giá trị xuất khẩu từ nuôi biển đạt khoảng 800 triệu USD, điều này cho thấy tiềm năng lớn của nhóm sản phẩm thủy sản biển.

Đối với lĩnh vực thức ăn, đến nay hiện cả nước có khoảng 25 cơ sở sản xuất thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản biển với khoảng 160 sản phẩm. Các sản phẩm thức ăn cũng liên tục được nghiên cứu, điều chỉnh để phù hợp với từng đối tượng nuôi. Sản lượng thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản biển năm 2025 đạt khoảng trên 160.000 tấn.

Theo định hướng đến năm 2030, diện tích nuôi biển dự kiến đạt khoảng 300.000 ha, thể tích nuôi lồng bè khoảng 12 triệu m³, sản lượng nuôi biển phấn đấu đạt khoảng 1,45 triệu tấn.

Riêng sản lượng cá biển đến năm 2030 dự kiến đạt khoảng 200.000 tấn, trong khi hiện nay đạt khoảng hơn 100.000 tấn. Với quy mô đó, nhu cầu thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi biển ước khoảng 350.000- 400.000 tấn mỗi năm, trong khi sản xuất hiện nay mới đạt gần 200.000 tấn. Như vậy, đây là lĩnh vực còn nhiều dư địa để mở rộng sản xuất và đáp ứng nhu cầu thực tế.

Đối với nuôi biển, đặc biệt là nuôi cá biển, dinh dưỡng quyết định rất lớn đến giá thành và chất lượng sản phẩm. Trong nuôi trồng thủy sản nói chung, thức ăn thường chiếm khoảng 60% giá thành sản xuất.

chen_1789722069.jpg

cum-1_1789722369.jpg
Ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản trên biển đang phát triển. Ảnh minh họa

chen_1789722069.jpg

Ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản trên biển đang phát triển, trước đây người dân chủ yếu sử dụng thức ăn tươi sống. Với thức ăn tươi sống, hệ số thức ăn có thể ở mức 7-8, tức cần khoảng 7-8 kg cá thức ăn để tạo ra 1 kg sản phẩm. Trong khi đó, khi sử dụng thức ăn công nghiệp, hệ số thức ăn có thể giảm xuống khoảng 1,8-2 và còn có khả năng được cải thiện thông qua nghiên cứu.

Trong bối cảnh giá thức ăn tươi sống ngày càng tăng, việc chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn công nghiệp là nhu cầu cấp thiết. Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh nghiên cứu về dinh dưỡng cho các đối tượng nuôi biển.

Một vấn đề quan trọng là nhu cầu dinh dưỡng của các đối tượng nuôi là khác nhau, khác với tôm, cá tra và các đối tượng thủy sản khác. Đối với tôm và cá tra, các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng đã được nghiên cứu và đưa vào thực tiễn sản xuất khá nhiều trong thời gian qua, và cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ. Trong khi đó, với cá biển, đây vẫn là lĩnh vực mới và cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.

Chất lượng thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cá thương phẩm. Ở từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển cá cần được sử dụng loại thức ăn phù hợp để bảo đảm tốc độ tăng trưởng, sức khỏe và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, việc xác định nhu cầu dinh dưỡng và xây dựng khẩu phần thức ăn phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của cá có ý nghĩa rất quan trọng.

Có thể nói, trong nuôi biển hiện nay, bên cạnh con giống, quy trình nuôi và khả năng ứng phó với các điều kiện môi trường, thức ăn và dinh dưỡng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Việc chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn công nghiệp phù hợp, hiệu quả và bền vững sẽ là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy nuôi biển phát triển theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng.

chen_1789722069.jpg

tit-2_1789722250.jpg

chen_1789722069.jpg

PV: Vậy dinh dưỡng, thức ăn đóng vai trò như thế nào đối với nghề nuôi biển quy mô lớn, thưa ông?

Thạc sỹ Trần Công Khôi: Chúng ta muốn phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển bền vững thì thức ăn là một yếu tố vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, chúng ta không thể đi theo hướng sử dụng thức ăn tươi sống, bởi điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lợi thủy sản, môi trường.

Thứ hai, khi sử dụng thức ăn công nghiệp do chúng ta sẽ kiểm soát được chất lượng sản phẩm. Khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm thì mới có thể mở rộng thị trường. Nếu chỉ bán ở thị trường trong nước thì sẽ rất hạn chế, còn khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, chúng ta mới có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu. Vì vậy, việc làm chủ công nghệ nghiên cứu, quy trình sản xuất thức ăn có ý nghĩa rất quan trọng.

Đối với cá biển, hiện có rất nhiều loài đối tượng nuôi và thức ăn khác nhau. Hiện nay, đối với mộ số đối tượng như cá song, cá vược… chúng ta đã có thể sử dụng thức ăn công nghiệp từ giai đoạn con giống cho đến khi thương phẩm và thu hoạch. Đây là một bước tiến quan trọng. Trước đây, chúng ta phải thuần hóa con giống bằng thức ăn công nghiệp ở giai đoạn sau, trong khi hiện nay đã có thể sử dụng thức ăn công nghiệp ngay trong quá trình sản xuất giống và ương nuôi giống. Nếu sử dụng thức ăn tươi sống để ương cá đến giai đoạn sau mới chuyển sang thức ăn công nghiệp thì tỷ lệ hao hụt rất lớn. Hiện nay, việc sản xuất được thức ăn công nghiệp phục vụ sản xuất giống có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó cho thấy chúng ta đã nghiên cứu và làm chủ được công nghệ thức ăn phục vụ cho quá trình ương giống.

Đối với cá nuôi thương phẩm, mỗi loài lại có một nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Ví dụ, cá song, cá vược, cá chẽm hay cá mú… có những nhu cầu dinh dưỡng tương đối khác nhau. Đến nay, chúng ta đã từng bước khép kín được quy trình dinh dưỡng và tiếp tục nghiên cứu để xây dựng chế độ, thành phần dinh dưỡng phù hợp với yêu cầu về chất lượng thịt của từng loài.

chen_1789722069.jpg

cum-2_1789722343.jpg
Việc làm chủ công nghệ sản xuất và công thức thức ăn là yếu tố rất quan trọng. Ảnh minh họa

chen_1789722069.jpg

Tuy nhiên, với một số loài cá, việc sử dụng thức ăn công nghiệp mới chỉ giúp cá sinh trưởng đến một kích cỡ nhất định. Ví dụ, đối với cá giò, hiện nay cá có thể đạt khoảng 3 kg khi sử dụng thức ăn công nghiệp, còn để nuôi đạt khối lượng từ  5-6 kg hoặc lớn hơn thì vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu.

Như vậy, việc làm chủ công nghệ sản xuất và công thức thức ăn là yếu tố rất quan trọng. Hiện nay, đối với các nhà máy sản xuất thức ăn, chúng ta đã có khoảng 25 nhà máy. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tận dụng công nghệ của các loại thức ăn khác để sản xuất thức ăn cho cá biển. Đây là lĩnh vực cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để từng bước làm chủ công nghệ và công thức thức ăn phù hợp với từng đối tượng nuôi biển.

chen_1789722069.jpg

tit-3_1789722491.jpg

chen_1789722069.jpg

PV: Có ý kiến cho rằng đối với một số đối tượng nuôi và giai đoạn phát triển nhất định, thức ăn công nghiệp hiện vẫn chưa thể hoàn toàn thay thế thức ăn tươi. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Thạc sỹ Trần Công Khôi: Trước đây, nuôi thủy sản trên biển chủ yếu tập trung vào một số đối tượng nhất định. Hiện nay, số lượng đối tượng nuôi đã được mở rộng đáng kể. Trong đó, có những đối tượng chúng ta đã khép kín được vòng đời bằng phương pháp nhân tạo. Tức là từ con giống, chúng ta nuôi thành cá thể bố mẹ, cho sinh sản tạo ra thế hệ con giống mới; thế hệ F2 cũng có thể phát triển thành bố mẹ và tiếp tục sinh sản.

Bên cạnh đó, có những đối tượng hiện nay chúng ta vẫn khai thác nguồn giống bố mẹ từ tự nhiên để đưa vào sản xuất giống nhân tạo. Việc nghiên cứu để khép kín hoàn toàn vòng đời đối với những đối tượng mới cần khá nhiều thời gian. Tuy nhiên, nếu đi vào khu vực miền Trung, có thể thấy nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao đã được khai thác từ tự nhiên và từng bước chủ động sản xuất giống nhân tạo.

Khi mở rộng thêm một đối tượng nuôi trong nuôi thủy sản, nghiên cứu thức ăn là yêu cầu bắt buộc. Nếu quy trình nghiên cứu, sản xuất thức ăn chưa hoàn chỉnh thì rất khó xây dựng một quy trình nuôi ổn định và hiệu quả. Bên cạnh nghiên cứu quy trình nuôi, quy trình kiểm soát môi trường và dịch bệnh, việc xác định thành phần, công thức dinh dưỡng và sản xuất thức ăn phù hợp với từng đối tượng có ý nghĩa rất quan trọng.

Như tôi đã trao đổi, đối với một số đối tượng mới, ở một số giai đoạn phát triển, thức ăn hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về dinh dưỡng. Đây là vấn đề chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.

chen_1789722069.jpg

cum-3_1789722759.jpg
Thời gian tới, các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học… cần tiếp tục tập trung vào lĩnh vực xác định thành phần, công thức dinh dưỡng và sản xuất thức ăn phù hợp với từng đối tượng nuôi thủy sản. Ảnh minh họa

chen_1789722069.jpg

Về định hướng nghiên cứu, các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học… cần tiếp tục tập trung vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, ngoài các trường, viện, một thành phần rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện nay chính là doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có điều kiện nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất thức ăn và trực tiếp áp dụng trong hoạt động nuôi trồng của mình. Khi doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình này, hiệu quả nghiên cứu và khả năng đưa kết quả vào thực tiễn sẽ cao hơn.

Thời gian vừa qua, tại các hội nghị các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã nhấn mạnh vấn đề này, nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chuỗi nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ. Trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nội dung này cũng được lồng ghép để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu.

Nghiên cứu thức ăn cho nuôi biển không chỉ dừng ở thành phần dinh dưỡng. Mỗi đối tượng nuôi, mỗi loại thức ăn có thể đòi hỏi một công nghệ sản xuất khác nhau. Vì vậy, dây chuyền sản xuất, hệ thống thiết bị và cơ sở vật chất cũng có những yêu cầu riêng.

Có những trường hợp có thể tận dụng hệ thống, thiết bị hiện có, nhưng cũng có những trường hợp phải đầu tư công nghệ và dây chuyền mới để đáp ứng yêu cầu sản xuất, đồng thời bảo đảm chất lượng và không làm ảnh hưởng đến các khâu khác trong chuỗi.

Đây là vấn đề rất quan trọng. Hiện nay, chúng ta vẫn còn một số đối tượng mà công nghệ sản xuất thức ăn và công thức dinh dưỡng chưa hoàn toàn chủ động. Tuy nhiên, chúng ta đã nhận diện được vấn đề và đang tiếp tục tập trung nghiên cứu để từng bước làm chủ.

chen_1789722069.jpg

pexels-pastor-35979695-copy_1789722822.jpg
Khu vực nuôi biển của ngư dân đảo Phú Quốc (An Giang). Ảnh minh họa

chen_1789722069.jpg

Tôi cho rằng, với tốc độ phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện nay, đến năm 2030, chúng ta có thể từng bước làm chủ công nghệ sản xuất cũng như công thức dinh dưỡng cho các đối tượng nuôi biển chủ lực. Khi đó, khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất trong nuôi trồng thủy sản trên biển sẽ được nâng lên.

Đối với những đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá giò, cá mú, tôm hùm… việc làm chủ giống, thức ăn, công nghệ nuôi và các khâu trong chuỗi sản xuất sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường. Sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn có khả năng tiếp cận và xuất khẩu vào những thị trường có yêu cầu cao. Khi kiểm soát tốt toàn bộ chuỗi sản xuất, sức cạnh tranh và giá trị của sản phẩm nuôi biển sẽ được nâng cao.

PV: Để thực hiện mục tiêu làm chủ nguồn thức ăn phục vụ nuôi biển đến năm 2030 và những năm tiếp theo, theo ông, chúng ta cần có những ưu tiên, giải pháp đột phá nào?

Thạc sỹ Trần Công Khôi: Tôi nghĩ rằng, ngoài việc mở rộng sản xuất, tăng thêm các cơ sở sản xuất thức ăn phục vụ nuôi biển, để đến năm 2030 có thể cung cấp đủ lượng thức ăn đáp ứng nhu cầu, thì đầu tư cho khoa học, công nghệ là yếu tố then chốt.

Vấn đề trước tiên là phải ưu tiên đầu tư cho khoa học, công nghệ ở đây trước hết là đầu tư về cơ sở vật chất, dây chuyền sản xuất thức ăn cho những đối tượng nuôi có quy mô lớn và những đối tượng mà hiện nay chúng ta vẫn còn có những giai đoạn chưa làm chủ hoàn toàn về công nghệ.

Thứ hai, phải tập trung nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng, thành phần dinh dưỡng đối với những đối tượng hiện nay đang được đưa vào nuôi, tức là những đối tượng mới. Cùng với đó là nghiên cứu hoàn thiện, ổn định và cải thiện chế độ dinh dưỡng đối với những đối tượng đang nuôi, qua đó tạo ra những chủng loại sản phẩm thức ăn khác nhau để đưa ra thị trường.

Thứ ba, chúng ta phải nghiên cứu để hạ hệ số thức ăn. Hiện nay, hệ số thức ăn đang ở khoảng 1,8 - 2,2, hiểu đơn giản là khi cho một đối tượng nuôi ăn 1,8 kg thức ăn thì tỷ lệ tăng trọng sẽ được khoảng 1 kg. Do đó, chúng ta phải cố gắng nghiên cứu, tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng để hệ số thức ăn trong nuôi cá biển giảm xuống khoảng 1,5.

chen_1789722069.jpg

pexels-hson-37052312-copy_1789722678.jpg
Theo Ths. Trần Công Khôi chia sẻ, hiện nay tôm và cá tra đã có những loại thức ăn đạt hệ số khoảng 1,2. Ảnh minh họa

chen_1789722069.jpg

Hiện nay, tôm và cá tra đã có những loại thức ăn đạt hệ số khoảng 1,2. Vì vậy, chúng ta cũng đặt mục tiêu đưa hệ số thức ăn trong nuôi cá biển xuống khoảng 1,5. Khi đó, hoạt động nuôi biển sẽ giảm áp lực về việc sử dụng quá nhiều thức ăn, qua đó góp phần giảm chi phí sản xuất, hạn chế tác động đến môi trường và nguồn lợi.

Đối với cá biển, nhu cầu sử dụng đạm rất lớn. Nguồn đạm trong thức ăn hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào các nguyên liệu có nguồn gốc thủy sản. Do đó chúng ta phải từng bước nghiên cứu để thay thế nguồn đạm từ thủy sản trong thức ăn nuôi biển.

Có thể sử dụng đạm thực vật. Nhưng đạm thực vật cũng cần được nghiên cứu để bảo đảm phù hợp với từng đối tượng nuôi. Nếu chỉ sử dụng đạm thực vật thì đến một giai đoạn nhất định, vật nuôi có thể không đạt được tốc độ tăng trưởng như mong muốn. Vì vậy, chúng ta có thể nghiên cứu thay thế bằng các loại đạm động vật khác.

Bên cạnh bột xương, bột thịt, hiện nay chúng ta cũng đang nghiên cứu sử dụng nguồn đạm từ côn trùng, chẳng hạn như đạm từ ruồi lính đen. Nguồn nguyên liệu này hiện có giá thành tương đối cao, nhưng nếu tiếp tục nghiên cứu để hạ giá thành và nâng cao hiệu quả sử dụng thì có thể trở thành một nguồn đạm thay thế phù hợp.

Việc thay thế đạm bột cá bằng các nguồn đạm khác sẽ mang lại nhiều lợi ích. Tuy nhiên, muốn thay thế được thì phải tiếp tục nghiên cứu để xác định tỷ lệ sử dụng phù hợp, thậm chí phải bổ sung thêm các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để nguồn đạm mới đáp ứng tốt hơn nhu cầu của vật nuôi.

chen_1789722069.jpg

box-1_1789723092.jpg

chen_1789722069.jpg

Đối với những loại thức ăn đã được nghiên cứu và công bố chất lượng, các tổ chức, cá nhân có thể xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, công bố áp dụng theo quy định của pháp luật về chất lượng, tiêu chuẩn và quy chuẩn. Để lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục theo quy định và gửi thông báo đến các cơ quan có thẩm quyền, ở đây là Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Như vậy, cơ chế hiện nay tương đối cởi mở, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân chủ động nghiên cứu, sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường. Theo quy định về chất lượng, thức ăn thủy sản thuộc nhóm sản phẩm có nguy cơ rủi ro trung bình về chất lượng, an toàn. Do đó, các tổ chức, cá nhân có thể thực hiện công bố hợp quy trên cơ sở chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận hoặc tự chứng nhận hợp quy theo quy định.

Tôi hy vọng trong thời gian tới, thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản trên biển sẽ được mở rộng về chủng loại, số lượng sản phẩm, khối lượng và chất lượng. Mục tiêu là mỗi đối tượng thủy sản mới được đưa vào nuôi trồng trên biển đều có loại thức ăn đáp ứng yêu cầu về dinh dưỡng, đồng thời bảo đảm đủ về số lượng để phục vụ sản xuất.

Chúng ta sẽ từng bước tiến tới việc giảm sử dụng thức ăn tươi sống, thức ăn truyền thống trong nuôi trồng thủy sản trên biển. Khi đó, sản phẩm nuôi trồng thủy sản sẽ được kiểm soát tốt hơn trong toàn bộ chuỗi sản xuất, từ truy xuất nguồn gốc, chất lượng, an toàn đến đáp ứng yêu cầu của thị trường và xuất khẩu.

Tôi tin tưởng rằng, trong thời gian tới với việc áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất thức ăn, chúng ta hoàn toàn có thể đáp ứng được cho nhu cầu nuôi biển đến năm 2030 và những năm tiếp theo để thực hiện hóa mục tiêu theo Nghị quyết 20, đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Bài 3: Công nghệ lồng bè - đảm bảo tính bền vững trong nuôi biển

Thực hiện: Mạnh Hải - Sỹ Tùng Thiết kế: Chu Hồng Châu
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng tốc về đích năm 2026

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng tốc về đích năm 2026

    Sáng 16/9, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp báo thường kỳ dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp. Từ kết quả tăng trưởng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đến nguy cơ thiếu nước trong mùa khô năm 2027, những thay đổi của các thị trường nhập khẩu và công tác chuẩn bị cho GREEN EXPO 2027,... thông điệp xuyên suốt được đặt ra là phải chủ động từ sớm, bám sát từng thị trường, từng lưu vực sông và từng nhiệm vụ cụ thể.

  • Chạm nhịp sống làng chài: Mở hướng du lịch xanh Hải Tiến

    Chạm nhịp sống làng chài: Mở hướng du lịch xanh Hải Tiến

    Không chỉ có biển xanh, bãi cát và những ngày nghỉ dưỡng, Hải Tiến (xã Hoằng Tiến, tỉnh Thanh Hóa) đang tìm cách đưa du khách bước sâu hơn vào đời sống của cộng đồng ven biển thông qua hoạt động “Chạm nhịp sống làng chài”. Cách làm mới không chỉ tạo thêm sức hút, kéo dài mùa du lịch mà còn mở hướng gắn du lịch với sinh kế ngư dân, kinh tế cộng đồng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

  • Vươn ra biển lớn bằng tri thức, công nghệ và trách nhiệm bảo tồn sinh thái

    Vươn ra biển lớn bằng tri thức, công nghệ và trách nhiệm bảo tồn sinh thái

    Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 phát triển 6 - 10 GW điện gió ngoài khơi. Khai thác tiềm năng năng lượng tái tạo biển không chỉ là bài toán lắp đặt công suất, mà gắn liền với quy hoạch không gian biển, bảo tồn hệ sinh thái, bảo đảm sinh kế ngư dân và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của đất nước.