Từ thời Hùng Vương, người Việt đã sống với nhau thành xóm, thành làng, gắn bó, ràng buộc với nhau bởi quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng, dần hình thành nếp sống cộng đồng riêng có, tạo ra văn hóa làng.
Trải qua bao thăng trầm và những biến thiên lịch sử, làng quê vẫn là nơi lưu giữ trọn vẹn bản sắc dân tộc. Trong quá trình hiện đại hóa và phát triển, làng truyền thống Việt Nam đang đứng trước những vận hội và thách thức mới. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, “hồn làng” cũng cần cần được gìn giữ bằng sự trân trọng lịch sử, tránh để hiện đại hóa làm phai nhạt đi bản sắc địa phương.
Làng người Việt hình thành rất sớm, trước và cùng thời với thuở lập nước của các Vua Hùng (các làng có tên Nôm là từ “Kẻ” đi kèm một tên Nôm khác, thường khó xác định chính xác ngữ nghĩa, như Kẻ Chèm, Kẻ Bương, Kẻ Cấn, Kẻ Gối, Kẻ Ngà,…). Từ nửa sau thế kỷ XV, mỗi làng đó đã trở thành các cộng đồng ổn định về địa vực, đông về dân cư, tương đối vững về kinh tế, hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức. Các công trình tín ngưỡng, các sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, lệ tục, có tính cách riêng rất rõ nét, thể hiện qua nếp làng, “thói” làng”,…
Đi từ xa, làng hiện ra bình yên giữa những cánh đồng lúa, hay bên bãi phù sa (làng ven sông). Mỗi mùa đi qua, đồng ruộng lại thay màu áo mới, từ xanh mướt đến vàng óng và luôn thấp thoáng bóng dáng người nông dân miệt mài cày cấy.
Đến gần, làng hiện ra cổng làng bề thế, với phong cách kiến trúc, trang trí nghệ thuật và các thông tin riêng về làng (thể hiện qua các dòng chữ Hán, các đôi câu đối).
Bên trong làng, sau lũy tre xanh là đường làng, ngõ xóm chạy men theo các ngôi nhà với ao - vườn. Trước cửa nhà, đầu ngõ, hàng cau vươn cao tạo nên hình ảnh bình dị và thân thương của làng quê Việt.
Trung tâm làng, ở nơi cao và rộng rãi nhất, trên thế đất đẹp nhất, với hình tượng rồng - phượng - tùy quan niệm từng làng - là ngôi đình với mái ngói lô xô, đầu đao cong vút; mái chùa thâm u, tĩnh mịch bên cây đa, bến nước hay giếng nước, cùng các công trình khác như văn chỉ, đền Mẫu, nhà thờ các dòng họ.
Sau lũy tre, cuộc sống của dân làng diễn ra theo nhịp điệu, chu kỳ của các vụ sản xuất nông nghiệp, có khẩn trương, gấp gáp, căng thẳng, có thong thả, nông nhàn. Xen giữa nhịp sống lao động là những ngày lễ, Tết, những phong tục cưới hỏi, những ngày hội làng với các chầu tế nghiêm trang, những trò diễn - thi tài sôi động, phấn chấn lòng người, các trò chơi dân gian cuốn hút con trẻ và những đêm hội rộn rã tiếng trống chèo.
Cuộc sống làm nông vất vả, nhọc nhằn, phụ thuộc vào mùa vụ. Nhiều năm mất mùa gây đói kém, có năm được mùa nhưng với năng suất thấp, nên đời sống của dân làng nhìn chung không cao. Cuộc sống xã hội khi bình lặng với các mối quan hệ họ hàng, xóm giềng, bằng hữu bền chặt, nhưng cũng nhiều khi căng thẳng bởi mâu thuẫn không tránh khỏi giữa các dòng họ, các phe phái ở chốn đình trung. Tất cả đã in sâu vào tâm khảm người dân quê Việt từ bao đời nay.
Những yếu tố trên được định hình lại trong khái niệm “Văn hóa làng”. Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa làng là một phức thể của các yếu tố vật chất, tinh thần và xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn các thế hệ người nông dân. Văn hóa làng là bộ phận quan trọng nhất, chủ đạo nhất trong văn hóa Việt Nam, bởi trước đây, cư dân chủ yếu sống ở nông thôn, còn thành thị chỉ như những “ốc đảo” trong “biển” làng mạc. Văn hóa làng là cơ sở để hình thành nhân cách con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh trường tồn - vô biên, giúp mỗi thành viên gắn bó khăng khít với làng, và làng gắn với nước trong cuộc trường tồn của dân tộc và sự phát triển của quốc gia.
Ngày nay, làng Việt truyền thống đang có những biến đổi sâu sắc trước tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội, của quy hoạch phục vụ phát triển và của giao tiếp - giao lưu - hội nhập văn hóa. Song làng vẫn tồn tại, văn hóa làng vẫn hiện diện với khá đầy đủ các yếu tố truyền thống. Đó là hệ thống các di tích thờ cúng (đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ, nhà thờ các dòng họ,...) ngày càng có điều kiện để phục hồi, tu bổ, chỉnh trang khang trang hơn nhờ nguồn lực của Nhà nước và xã hội hóa được tăng cường. Chính hệ thống di tích đó làm cho văn hóa làng có sức sống. Cùng với đó là các lễ thức tín ngưỡng, các ngày hội làng, các sinh hoạt văn hóa dân gian của các vùng miền (chèo, Quan họ, hát Xoan, Ca trù, Ví, Giặm Nghệ Tĩnh,...) vẫn được bảo tồn. Đó là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn của người dân Việt các thế hệ.
Qua những “bão giông” của thời cuộc, nhất là “cơn địa chấn” lớn như đại dịch Covid-19, ở những thời điểm gian nan, làng vẫn là yếu tố bệ đỡ cho sự ổn định của cuộc sống mỗi cá nhân, gia đình và cả quốc gia; bởi một trong những nét đặc trưng nhất của làng quê Việt, của người nông dân Việt là tính đoàn kết, tính đùm bọc. Các yếu tố này đặc biệt nổi rõ khi gặp khó khăn, khi có chiến tranh, thiên tai, địch họa,... Qua những thử thách, biến cố ấy, sự đoàn kết, đùm bọc của cộng đồng là yếu tố không bao giờ mất đi, mà trong điều kiện tiềm lực kinh tế đã phát triển hơn, thì sự đùm bọc lại được nâng cao hơn. Đó là sức mạnh vô biên.
Giờ đây, làng đang đứng trước vận hội mới trong bối cảnh chuyển đổi số, xây dựng nông thôn mới và sắp xếp lại đơn vị hành chính. Các chính sách phát triển đang tác động mạnh mẽ đến làng, cả trên khía cạnh văn hóa. Nhiều người lo ngại văn hóa làng sẽ bị “mất”, song lại chưa thấy được việc nhập xã, nhập làng sẽ mở ra cơ hội cho nhiều giá trị văn hóa đặc sắc xưa nay bị “đóng khung”, “đóng kín” trong nội bộ một làng được lan tỏa trên một diện rộng. Để rồi, giá trị của nó được khai thác, được bảo vệ và nâng cấp - mở rộng.
Làng vẫn là địa bàn để làm đơn vị cơ sở trọng điểm để tổ chức, duy trì hoạt động, bảo vệ các yếu tố, giá trị văn hóa. Trong tình hình đó, hệ thống các di tích phải được bảo vệ, tôn tạo. Các hình thức diễn xướng, lễ hội, phong tục độc đáo cần được giữ gìn, với sự chung tay của Nhà nước, cộng đồng (theo hình thức xã hội hóa). Tên làng truyền thống phải được gắn với các di tích này, như là một trong những cách thức “giữ làng”, giữ ký ức làng hữu hiệu nhất.
Bên cạnh đó, các giá trị đạo đức, tôn ti, trật tự, tình thương, lòng nhân ái từ trong gia đình, rồi ra đến cộng đồng, làng xã cần đặc biêt gìn giữ. Có tôn ti, trật tự ngay từ thiết chế nhỏ nhất là gia đình, dòng họ, làng xóm thì khi bước ra xã hội, mỗi cá nhân mới hình thành ý thức tôn trọng kỷ cương, pháp luật và các chuẩn mực chung. Tình thương yêu con người từ trong gia đình cũng là điều cần thiết và hết sức gìn giữ. Bởi đó chính là những yếu tố giúp cho làng ổn định để phát triển.