Mùa sinh kế vùng ven biển dưới tán rừng ngập mặn

Mùa sinh kế vùng ven biển dưới tán rừng ngập mặn

Thứ hai, 21/9/2026, 07:38 (GMT+7)
logo Ven cửa sông xã Nga Sơn (Thanh Hóa), những rặng sú vẹt không chỉ âm thầm giữ đất, chắn sóng mà còn nuôi dưỡng một nghề mới. Dưới tán rừng, gần 700 thùng ong của anh Trần Văn Sửu ngày ngày lấy mật, đem về nguồn thu ổn định và mở ra một cách làm kinh tế dựa vào tự nhiên.

Mật ngọt dưới tán sú vẹt

Buổi sáng ở vùng ven biển xã Nga Sơn (Thanh Hóa) thường bắt đầu bằng tiếng ong. Dưới những tán sú vẹt xanh rì, gần 700 thùng ong của gia đình anh Trần Văn Sửu được xếp thành từng dãy. Những chiếc thùng gỗ đã bạc màu vì nắng gió nằm nép bên rừng, phía trên là những chùm hoa sú vẹt nhỏ li ti đang vào mùa nở.

Anh Sửu, sinh năm 1985, đứng bên một thùng ong, nhẹ tay nhấc khung cầu lên kiểm tra. Công việc ấy với anh giờ đã thành quen. Chỉ nhìn đàn ong ra vào, anh có thể nhận biết phần nào tình trạng của tổ. Đàn khỏe thì ong bay rộn, mật về đều; đàn yếu phải chăm sóc kỹ hơn, có khi phải thay ong chúa hoặc điều chỉnh lại cách nuôi.

dsc03439_1789549558.jpg
Anh Trần Văn Sửu nhẹ tay nhấc khung cầu, kiểm tra tình trạng đàn ong sau một ngày tìm mật

Gần 10 năm trước, Sửu chưa nghĩ mình sẽ có ngày gắn bó với ong. Khi ấy, anh là thợ xây, quanh năm theo các công trình trong và ngoài làng. Công việc nặng nhọc, thu nhập lại phụ thuộc vào việc có công trình hay không. Trong khi đó, vợ chồng anh có tới 5 người con, các khoản chi tiêu trong gia đình cứ nối nhau.

Một lần, người họ hàng làm nghề nuôi ong về quê, đưa anh ra khu vực rừng sú vẹt xem đàn ong lấy mật. Giữa vùng bãi mặn, những bông hoa sú vẹt trắng xóa thu hút từng đàn ong. Anh Sửu tò mò rồi nghĩ, ngay quê mình có nguồn hoa tự nhiên như vậy, tại sao không thử nuôi ong?

dsc03456_1789549558.jpg
Những đàn ong tìm mật từ hoa sú vẹt, tạo nên sản phẩm kinh tế từ chính hệ sinh thái rừng ngập mặn

Anh mua những thùng ong đầu tiên bằng số tiền dành dụm. Nghề mới không dễ. Chưa có kinh nghiệm, anh từng để đàn ong chết, có đàn bỏ tổ, mật thu được ít. Nhưng thay vì bỏ cuộc, anh vừa làm vừa học, tìm hiểu tập tính của ong, cách chăm sóc ong chúa, vệ sinh cầu, phòng bệnh và lựa chọn thời điểm lấy mật. Từ vài thùng ong ban đầu, đàn ong tăng dần qua từng năm. Đến nay, số lượng đã lên gần 700 thùng.

Điều đặc biệt trong nghề của anh Sửu là đàn ong không chỉ quanh quẩn ở một địa điểm. Khi rừng sú vẹt vào mùa hoa, ong được đưa về quê. Khi mùa hoa kết thúc, hàng trăm thùng ong lại được chất lên xe, theo mùa nhãn, mùa vải hoặc vào tận Tây Nguyên theo mùa hoa cà phê. Ong đi tìm mật, còn người nuôi phải đi theo để chăm đàn.

dsc03457_1789549564.jpg
Anh Trần Văn Sửu bên những thùng ong được đặt dưới tán rừng sú vẹt ven cửa sông Nga Sơn

Những chuyến “du mục” ấy vất vả nhưng giúp anh tận dụng được nhiều nguồn hoa trong năm. Còn tại quê nhà, rừng sú vẹt vẫn là một nguồn thức ăn quan trọng của đàn ong. Mùa hoa về, cả khu rừng trở thành một “cánh đồng” đặc biệt, không cần cày cuốc, gieo trồng nhưng lại cho người dân một sản phẩm có giá trị.

Anh Sửu bảo, nuôi ong không được tham. Khi lấy mật phải để lại phần thức ăn cho ong, nhất là những ngày mưa gió. Đàn ong có khỏe thì vụ sau mới tiếp tục cho mật. Nói về nghề, anh thường nhắc đến sự kiên nhẫn nhiều hơn kỹ thuật. “Mình nuôi nó thì phải để nó sống”, anh nói.

dsc03435_1789549551.jpg
Những thùng ong được xếp ngay ngắn dưới tán rừng, nơi có nguồn hoa và môi trường thuận lợi cho nghề nuôi ong

Nhờ đàn ong, cuộc sống gia đình Sửu thay đổi rõ rệt. Thu nhập từ nghề hiện đạt trên 200 triệu đồng mỗi năm, giúp vợ chồng anh có điều kiện nuôi 5 người con ăn học, trong đó có người con đã vào đại học. Từ một người thợ xây làm thuê, anh có một nghề riêng, một đàn ong lớn và một nguồn thu tương đối ổn định.

Giữ rừng để giữ sinh kế

Đứng giữa khu rừng sú vẹt mới thấy sinh kế của người dân và cánh rừng có một mối liên hệ rất gần. Ong cần hoa, hoa cần cây, còn người nuôi ong cần cả hai để có sản phẩm. Nếu rừng bị suy giảm, nguồn hoa cũng mất đi; khi đó đàn ong khó phát triển và nghề nuôi ong cũng bị ảnh hưởng.

1_1787201606_1789549542.jpg
Với hơn 350ha rừng ngập mặn, đây là nơi cung cấp nguồn hoa, đồng thời tạo môi trường sinh sống cho nhiều loài thủy sản

Giá trị của rừng ngập mặn vì thế không chỉ nằm ở những hàng cây chắn sóng, giữ đất. Dưới tán rừng còn có thể hình thành nhiều sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng ven biển. Đây cũng là hướng đi đáng chú ý đối với những vùng đất thường xuyên chịu tác động của nước mặn, thủy triều và thời tiết. Không thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, nhưng rừng ngập mặn lại tạo ra môi trường cho các loài thủy sinh, nguồn hoa cho ong và những sản phẩm đặc trưng có thể phát triển thành hàng hóa.

Không chỉ có gia đình Sửu, ngày càng nhiều người dân quanh vùng nhận ra giá trị kinh tế nằm trong những cánh rừng ngập mặn. Với diện tích hơn 350ha, rừng ngập mặn khu vực huyện Nga Sơn cũ... gồm những loài cây đặc trưng như sú, vẹt, bần chua. Nhờ được bảo vệ, chăm sóc, nhiều năm qua những dải rừng vẫn giữ được màu xanh, thậm chí có những khu vực tiếp tục mở rộng theo quá trình bồi tụ tự nhiên.

dsc03469_1789549565.jpg
Ngoài nghề nuôi ong, người dân còn mưu sinh dưới tán rừng ngập mặn bằng việc khai thác các loài thủy sản như cua, cáy, ốc

Đi dưới tán rừng vào lúc nước rút, có thể bắt gặp những dấu vết rất quen thuộc của đời sống vùng cửa sông: những vũng nước nhỏ còn sót lại giữa bãi bùn, những rễ cây đan vào nhau và những con cáy, cua, ốc ẩn dưới lớp bùn. Độ mặn phù hợp cùng hệ sinh thái đặc thù tạo điều kiện cho nhiều loài thủy sinh sinh sản, phát triển. Với người dân địa phương, đó là nguồn sinh kế đã gắn bó từ lâu, có thể khai thác theo mùa, gần như quanh năm.

Để nghề phát triển theo hướng lâu dài, người nuôi ong tại địa phương cũng được hướng dẫn, tập huấn về quy trình chăm sóc, lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xây dựng sản phẩm. Mục tiêu không chỉ dừng ở việc có mật để bán mà hướng tới sản xuất ổn định, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường trong nước, quốc tế.

dsc03437_1789549551.jpg
Hoa sú vẹt nhỏ li ti nhưng là nguồn thức ăn quan trọng giúp những đàn ong duy trì và phát triển

Từ năm 2015 đến nay, Thanh Hóa đã trồng mới 723,44ha rừng ngập mặn, tập trung tại các địa bàn như Vạn Lộc, Tân Tiến, Hoằng Tiến, Hoằng Thanh... Cùng với trồng mới, công tác chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng được chú trọng, từng bước hình thành những vành đai sinh thái ven biển. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2015, công tác khoán bảo vệ rừng ngập mặn được triển khai tại các địa bàn thuộc các huyện cũ Nga Sơn, Hậu Lộc và Hoằng Hóa với tổng diện tích khoảng ghần 1000ha. Diện tích được giao khoán được quản lý, bảo vệ tốt, không ghi nhận tình trạng phá rừng hoặc chuyển mục đích sử dụng rừng ngập mặn.

dsc03418_1789549545.jpg
Khi mùa hoa sú vẹt kết thúc, những đàn ong lại theo chủ đi tìm các vùng hoa nhãn, vải, cà phê ở nhiều địa phương

Những con số ấy cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý: bảo vệ rừng không chỉ để giữ màu xanh cho vùng ven biển mà còn để giữ lại những nguồn sinh kế mà rừng đang cung cấp. Khi người dân có thể sống bằng những giá trị phù hợp của hệ sinh thái, việc bảo vệ rừng sẽ có thêm một điểm tựa từ chính đời sống cộng đồng.

Hoàng Anh