Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hàng triệu héc-ta rừng, đất lâm nghiệp được chuyển giao về cho cấp xã quản lý. Điều này đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý và bảo vệ rừng do điều kiện về nhân lực, kinh phí, hồ sơ và dữ liệu quản lý vẫn còn nhiều hạn chế. Tại xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La, địa phương đang quản lý hơn 15.000ha rừng và đất lâm nghiệp, những khó khăn này càng trở nên rõ nét. Phóng viên (PV) Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu, về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
PV: Sau khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, công tác quản lý và bảo vệ rừng tại xã Nậm Lầu đang gặp những khó khăn gì, thưa ông?
Ông Cầm Bun Lộc: Xã Nậm Lầu là địa phương có địa bàn quản lý rộng, diện tích rừng, đất lâm nghiệp lớn, trên 15.000ha, trong khi lực lượng trực tiếp làm công tác bảo vệ rừng còn mỏng. Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa được đồng nhất. Một khó khăn khác đối với công tác quản lý rừng ở Nậm Lầu là ranh giới giữa diện tích rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý với diện tích người dân đang sử dụng chưa phải lúc nào cũng rõ ràng trên thực địa.
Việc xác định ranh giới diện tích đất rừng do UBND xã quản lý gặp khó khăn do công tác bàn giao hiện trạng đất rừng về UBND xã chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa nhất quán. Bên cạnh đó, ranh giới nhiều diện tích chưa được cắm mốc ngoài thực địa. Đây là một trở ngại rất lớn đối với chính quyền cơ sở.
Muốn xử lý một trường hợp lấn chiếm, trước hết phải xác định chính xác diện tích đó thuộc phạm vi nào, nguồn gốc ra sao và thuộc trách nhiệm quản lý của ai. Khi bản đồ, hồ sơ và thực địa chưa đồng nhất, việc kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm sẽ mất nhiều thời gian.
Đặc biệt, đối với Nậm Lầu, ghi nhận hơn 1.000ha có tình trạng lấn chiếm, nên việc xác định ranh giới có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu không giải quyết được vấn đề ranh giới, công tác bảo vệ rừng rất dễ rơi vào tình trạng xử lý từng vụ việc nhưng khó giải quyết tận gốc.
Điều này cho thấy, muốn giải quyết lấn chiếm đất rừng, đất lâm nghiệp ở Nậm Lầu không thể chỉ tăng cường kiểm tra, lập biên bản hay xử phạt. Điều quan trọng là cần xác định rõ nguồn gốc từng diện tích, rà soát hồ sơ, đối chiếu bản đồ với thực địa và phân loại những trường hợp đang sử dụng đất.
Đối với Nậm Lầu, xã có địa bàn rộng, điều kiện giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa,… điều này ảnh hưởng rất lớn đến công tác tuần tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, việc nhận thức của một bộ phận người dân về bảo vệ rừng chưa cao, tình trạng đốt nương làm rẫy vẫn xảy ra ở một số bản trên địa bàn xã.
PV: Với diện tích rừng và đất lâm nghiệp rất lớn nhưng chỉ có một cán bộ chuyên trách, xã đã triển khai những giải pháp nào để quản lý hiệu quả?
Ông Cầm Bun Lộc: Thời gian qua xã Nậm Lầu đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó, tập trung phát huy vai trò các bản, tổ bảo vệ rừng cộng đồng và các chủ rừng trong công tác tuần tra, giám sát. Tại tất cả các bản, xã đã thành lập các tổ tự quản bảo vệ rừng hoạt động theo quy chế, hương ước của bản. Khi có sự cố, phương châm "4 tại chỗ" (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ) luôn được kích hoạt ngay lập tức mà không cần chờ cán bộ xã xuống.
Cùng với đó, địa phương luôn duy trì quy chế phối hợp tuần tra thường xuyên giữa lực lượng Công an xã, Quân sự xã (lực lượng dân quân tự vệ tại các bản) và lực lượng kiểm lâm địa bàn, ban quản lý các bản để nắm tình hình, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lâm nghiệp nhằm nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, xã thường xuyên rà soát các khu vực trọng điểm, có nguy cơ cao xảy ra vi phạm để tập trung kiểm tra, quản lý chặt chẽ hơn.
Cấp xã gần rừng hơn, gần người dân hơn và có điều kiện nắm bắt diễn biến thực địa nhanh hơn. Đây là lợi thế không thể phủ nhận. Nhưng lợi thế đó chỉ trở thành hiệu quả quản trị nếu đi kèm với nhân lực đủ mạnh, dữ liệu đủ chính xác, nguồn kinh phí đảm bảo và một hành lang pháp lý rõ ràng.
Thực tế tại Nậm Lầu cho thấy, khó khăn trong quản lý rừng của chính quyền cấp xã không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ. Đó là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố như: Diện tích quản lý lớn, nhân lực hạn chế, kinh phí chưa đáp ứng, ranh giới và hồ sơ chưa thật sự rõ, tình trạng người dân sử dụng đất lâm nghiệp còn tồn tại và cơ chế đối với diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê chưa hoàn thiện.
Với Nậm Lầu, ưu tiên trước mắt là rà soát, xác định chính xác hiện trạng và ranh giới hơn 15.000ha rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý, phân loại rõ diện tích đang lấn chiếm, diện tích người dân sản xuất và diện tích cần bảo vệ nghiêm ngặt. Song song với đó là đẩy nhanh giao đất, giao rừng, xác lập chủ thể quản lý phù hợp.
Về lâu dài, nhà nước cần có cơ chế phù hợp để người dân sống gần rừng được tham gia quản lý và hưởng lợi hợp pháp từ rừng. Khi người dân có lợi ích gắn với rừng, chính quyền có đủ lực lượng và kinh phí, mỗi diện tích rừng có một chủ thể chịu trách nhiệm rõ ràng… công tác bảo vệ rừng mới phát huy hiệu quả.
Nói cách khác, bảo vệ rừng muốn bền vững phải giải quyết được bài toán đất đai.
PV: Theo ông, đâu là những bất cập về phân cấp, phân quyền trong quản lý rừng giữa cấp tỉnh và cấp xã hiện nay?
Ông Cầm Bun Lộc: Hiện nay, việc phân cấp trách nhiệm nhưng chưa đi cùng nguồn lực. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025, nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện được chuyển xuống cấp xã. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, UBND xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ như phân loại rừng, phân định ranh giới, điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng, lập dự án giao đất, giao rừng,…
UBND xã hiện chịu trách nhiệm quản lý diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê, nhưng lại không phải là một nhóm chủ rừng được quy định tại Điều 8 Luật Lâm nghiệp 2017. Vì vậy, xã rơi vào tình trạng phải bảo vệ rừng nhưng không có đầy đủ tư cách pháp lý và quyền của một chủ rừng.
Có thể nói, đây là một “nghịch lý” đang diễn ra tại nhiều địa phương: Xã chịu trách nhiệm trực tiếp nhưng quyền quyết định và quyền hưởng lợi đối với tài nguyên rừng lại chưa đầy đủ. Trong khi đó, kế hoạch giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng của UBND xã vẫn phải được UBND cấp tỉnh phê duyệt.
Có một thực tế là, trong khi cấp xã là đơn vị trực tiếp quản lý rừng tại địa bàn, nắm bắt tình hình thực tế và phát hiện các vụ việc vi phạm, thì thẩm quyền xử lý một số nội dung còn hạn chế. Nhiều thủ tục, quyết định liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn phải xin ý kiến hoặc chờ phê duyệt từ cấp trên làm ảnh hưởng đến tính kịp thời trong xử lý các vụ việc phát sinh. Vì vậy, đề nghị cấp tỉnh phải phân rõ trách nhiệm, thẩm quyền cho cấp xã, đồng thời cần có cơ chế biệt phái, tăng cường lực lượng kiểm lâm về cắm bản trực tiếp, đồng hành cùng cán bộ chuyên trách của xã để quản lý hiệu quả trong việc quản lý và bảo vệ rừng.
Đối với Sơn La, Sở Nông nghiệp và Môi trường phải bao quát, quản lý trực tiếp 75 xã, phường trên toàn tỉnh với địa hình, đặc thù lâm nghiệp rất khác nhau, dẫn đến việc sâu sát, hiểu địa bàn đôi lúc chưa kịp thời. Như xã Nậm Lầu, hiện nay chỉ có 1 cán bộ chuyên trách về lĩnh vực lâm nghiệp, chúng tôi vừa phải thực hiện công tác thực địa (tuần tra, giữ rừng), vừa phải triển khai nhiều nhiệm vụ như hoàn thiện hồ sơ, các thủ tục hành chính khác... Việc thiếu đi một cơ quan chuyên môn mang tính đỡ đầu, hướng dẫn kỹ thuật ở gần (như cấp huyện trước đây) khiến áp lực đè nặng lên vai cán bộ xã.
Định biên cán bộ của xã hiện nay chủ yếu vẫn dựa trên quy mô dân số và phân loại đơn vị hành chính, chưa tính đến yếu tố diện tích tự nhiên và diện tích rừng. Một xã có diện tích rừng lớn cũng chỉ có số lượng cán bộ tương đương một xã đồng bằng không có rừng, do đó công tác quản lý rừng ở địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn.
Những khó khăn tại Nậm Lầu cho thấy, việc tổ chức chính quyền hai cấp không chỉ là chuyển giao nhiệm vụ mà phải đi kèm với việc phân bổ nguồn lực. Trong đó, cần bố trí ngân sách ổn định cho công tác bảo vệ rừng, bảo đảm các hoạt động tuần tra, kiểm tra và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Do đó, để tác bảo vệ rừng phát huy hiệu quả cần tăng cường lực lượng kiểm lâm địa bàn, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền xã, kiểm lâm và cộng đồng dân cư. Tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng, đào tạo kỹ thuật về lâm nghiệp cho người dân và hỗ trợ thành lập các tổ bảo vệ rừng cộng đồng. Đây là hướng đi phù hợp với những địa bàn có diện tích rừng rộng và dân cư sống gắn với rừng như Nậm Lầu.
PV: Từ thực tế tại địa phương, theo ông, để chính quyền hai cấp thực sự phát huy hiệu quả trong quản lý, bảo vệ rừng, cần có những cơ chế, chính sách gì?
Ông Cầm Bun Lộc: Theo tôi, chúng ta cần sớm hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền theo hướng giao rõ trách nhiệm và thẩm quyền cho cấp xã trong quản lý và xử lý các vụ việc liên quan đến rừng.
Xem xét, sửa đổi quy định về số lượng công chức cấp xã. Hiện nay, chúng ta đang định biên chủ yếu theo quy mô dân số và phân loại đơn vị hành chính. Đối với địa phương có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn như Nậm Lầu cần có cơ chế đặc thù để tăng thêm số lượng công chức chuyên trách nông - lâm nghiệp.
Bổ sung kinh phí phục vụ công tác tuần tra, bảo vệ rừng và đầu tư trang thiết bị, ứng dụng công nghệ khoa học, kỹ thuật trong việc giám sát tài nguyên rừng. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững cho người dân, nâng cao mức chi trả dịch vụ môi trường rừng, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ phát triển rừng tại địa phương. Đồng thời, cần nâng mức xử phạt về lĩnh vực lâm nghiệp để tăng tính răn đe.
Đặc biệt, tại những xã có diện tích rừng lớn, địa bàn rộng, đi lại khó khăn, cần có định mức cán bộ và lực lượng bảo vệ rừng phù hợp với diện tích và mức độ rủi ro, thay vì áp dụng một định mức chung cho mọi xã
Bên cạnh đó, cần phân định thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương như tỉnh chịu trách nhiệm về chuyên môn, xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, kiểm lâm chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ nghiệp vụ.
Cơ chế phân cấp phải đi cùng phân quyền và phân bổ nguồn lực. Cần có chính sách tài chính riêng cho diện tích rừng UBND xã đang quản lý, đồng thời đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng để “rừng có chủ”. Có chính sách hưởng lợi đủ mạnh để người dân trở thành “người giữ rừng”. Tăng cường lực lượng chuyên môn và kiểm lâm địa bàn.
Muốn xã giữ được rừng, không thể chỉ giao thêm trách nhiệm mà phải giao đủ quyền, bố trí đủ nguồn lực và tạo đủ lợi ích để người dân cùng tham gia giữ rừng.
PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!