Nghị quyết 20: Làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu và công nghệ

Nghị quyết 20: Làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu và công nghệ

Thứ hai, 24/8/2026, 14:33 (GMT+7)
logo Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn những lợi thế sẵn có mà phải từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ biển. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt được đặt ra tại Hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh” tổ chức tại Nha Trang (Khánh Hòa) ngày 21/8.

Ngày 21/8, tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với UBND tỉnh Khánh Hòa, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức Hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”.

Hội thảo do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân và Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam GS,TS. Trần Tuấn Anh chủ trì, với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và giới khoa học.

bo-truong-bo-khcn_1787293482.jpg
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh, Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ “nghiên cứu về biển” sang từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng cho quản trị tổng hợp không gian biển, phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời chuyển từ tư duy ứng dụng sang làm chủ công nghệ, tổ chức những nhiệm vụ lớn, liên ngành và lấy sản phẩm cuối cùng, năng lực được hình thành làm thước đo.

Ông Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh phải dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ. Một quốc gia biển mạnh không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế biển, số lượng cảng hay tàu, mà quan trọng hơn là khả năng hiểu biển, dự báo biển, quản trị biển, khai thác bền vững tài nguyên và từng bước làm chủ công nghệ biển hiện đại. Từ đó, ông đề xuất đổi mới cách tổ chức nghiên cứu biển, chuyển từ các đề tài riêng lẻ sang giải quyết những bài toán lớn của quốc gia, coi dữ liệu biển là hạ tầng chiến lược và xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu biển thực sự liên ngành, đa ngành.

hoi-thao-kh-bien-nq-20_1787293481.jpg
GS,TS. Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Ở góc độ địa phương, ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa cho rằng, hiện thực hóa Nghị quyết số 20 đòi hỏi chuyển từ khai thác biển đơn thuần sang quản trị đại dương hiện đại, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt.

Với 490km bờ biển, hơn 200 đảo, các vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh cùng hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học chuyên sâu về biển, Khánh Hòa có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ biển của cả nước. Tỉnh kiến nghị Trung ương đầu tư các hạ tầng nghiên cứu dùng chung như tàu nghiên cứu biển sâu, phòng thí nghiệm trọng điểm, mạng quan trắc thông minh và xem xét hình thành Trung tâm Nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại Khánh Hòa.

Từ nghiên cứu về biển đến làm chủ biển

Báo cáo đề dẫn của TS. Trần Quốc Cường, Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra rằng khoảng cách từ định hướng tới năng lực thực tế vẫn còn khá lớn. Dữ liệu điều tra cơ bản biển còn thiếu, hạ tầng dữ liệu chưa liên thông; Việt Nam còn thiếu tàu nghiên cứu biển sâu, robot tự hành và thiết bị ngầm hiện đại; năng lực quan trắc, giám sát và công nghệ biển sâu còn hạn chế, trong khi mạng lưới viện, trường phân tán và doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào chuỗi đổi mới sáng tạo. Riêng điều tra địa chất và khoáng sản biển ở tỷ lệ 1:100.000 mới bao phủ khoảng 7,5% diện tích biển.

Từ thực tế đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đặt vấn đề lựa chọn khoảng 5-7 nhiệm vụ lớn, liên ngành, liên vùng trong giai đoạn 2026-2030 thay vì tiếp tục phân tán nguồn lực. Những hướng ưu tiên gồm dữ liệu và bản đồ số biển, trí tuệ nhân tạo trong quản trị, điều tra cơ bản, quan trắc - giám sát - dự báo, công nghệ biển sâu, công nghệ lưỡng dụng, nuôi biển công nghiệp, công nghệ sinh học biển, môi trường biển và năng lượng ngoài khơi. Đồng thời, mục tiêu hình thành 2-3 tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN được nhìn nhận không đơn thuần là chỉ tiêu về số lượng mà là yêu cầu về năng lực quốc gia.

pho-chu-tich-kh_1787293481.jpg
Ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa phát biểu tại Hội thảo

PGS,TS. Nguyễn Như Trung, Viện Các Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đề xuất xây dựng một nền tảng khoa học - dữ liệu - công nghệ biển theo chu trình khép kín, từ điều tra cơ bản, quan trắc đa quy mô đến hạ tầng dữ liệu, mô phỏng, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Trong Chương trình nghiên cứu biển 2026-2035 đang được chuẩn bị, một số sản phẩm lớn được định hướng gồm cơ sở dữ liệu biển quốc gia, ngân hàng gen sinh vật biển, mạng quan trắc dài hạn và bản sao số biển - Digital Twin.

Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga cho rằng, các nguồn lực phục vụ nghiên cứu biển như tàu nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trạm quan trắc, thiết bị, dữ liệu và chuyên gia hiện đang nằm trong nhiều hệ thống khác nhau. Vì vậy, cần xây dựng “bản đồ năng lực khoa học và công nghệ biển quốc gia”, hình thành cơ chế sử dụng chung hạ tầng, chia sẻ dữ liệu phù hợp và chuyển giao công nghệ hai chiều giữa dân sự và quốc phòng. Các khu vực thử nghiệm công nghệ trên biển - đảo và cơ chế sandbox cũng được đề xuất để công nghệ mới được kiểm chứng trong điều kiện thực tế trước khi thương mại hóa.

Đưa khoa học công nghệ đi vào kinh tế biển

Từ góc độ sản xuất, TS. Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, nuôi biển là một trong những lĩnh vực cần sự tham gia mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Đến năm 2030, lĩnh vực này định hướng tăng trưởng khoảng 8%/năm về giá trị, đạt tỷ trọng khoảng 15%, đồng thời bảo tồn từ 6% diện tích vùng biển tự nhiên trở lên.

Việt Nam hiện có khoảng 9.000 cơ sở nuôi biển nhưng trên 80% lồng nuôi vẫn là lồng gỗ truyền thống, chủ yếu ở quy mô hộ gia đình. Thực tế bão Yagi năm 2024 gây thiệt hại nặng cho nhiều hệ thống lồng gỗ tại Quảng Ninh và Hải Phòng, trong khi lồng tròn HDPE ít bị ảnh hưởng, cho thấy công nghệ vật liệu có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng chống chịu của sản xuất trước thiên tai.

ts-can_1787293482.jpg
TS. Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Hội thảo

Theo ông Cẩn, công nghệ nuôi biển không chỉ nằm ở chiếc lồng mà phải đi từ giống, thức ăn, vật liệu, thiết bị đến quan trắc môi trường và quản trị số. Cảm biến IoT tích hợp trí tuệ nhân tạo có thể theo dõi nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, tảo độc; bản đồ GIS giúp quản lý không gian vùng nuôi; các nền tảng số hỗ trợ truy xuất nguồn gốc từ “trang trại biển đến bàn ăn”.

Bên cạnh đó, mô hình nuôi đa loài, đa tầng, đa dinh dưỡng có thể góp phần giảm tải chất dinh dưỡng và hướng đến kinh tế tuần hoàn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề xuất xem xét xây dựng Chương trình hoặc Đề án khoa học công nghệ cấp quốc gia về nuôi biển, tập trung vào giống chất lượng cao, thiết bị chịu sóng, công nghệ số, quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh và cảnh báo thiên tai.

Ở lĩnh vực dầu khí, ThS. Nguyễn Ngọc Trung, Phó Giám đốc Chi nhánh Thăm dò Khai thác Dầu khí Nam Côn Sơn - Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí cho biết, thực tiễn tại mỏ Đại Hùng cho thấy một hướng khác của quá trình làm chủ biển. Đội ngũ Việt Nam đã từng bước thay thế nhân lực nước ngoài, làm chủ các khâu tìm kiếm, thăm dò, thiết kế, thi công, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng dự án dầu khí nước sâu xa bờ. Bài học được đặt ra là phải chuyển từ tiếp nhận, ứng dụng sang làm chủ và từng bước sáng tạo công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Bài toán nhân lực cũng được GS, TS. Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhìn nhận là một điểm nghẽn. Việt Nam còn thiếu các chương trình liên ngành kết hợp khoa học biển với dữ liệu, tự động hóa, kinh tế và luật; hạ tầng thực hành phân tán, đội ngũ chuyên gia còn mỏng và việc đào tạo chưa gắn chặt với các dự án thực tế. Vì vậy, cần tăng cường chia sẻ tàu nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hệ thống mô phỏng, đồng thời đưa người học trực tiếp vào các dự án cảng biển, điện gió, nuôi biển và logistics.

Bước chân khỏi vùng biển nông, mơ ra biển sâu

Kết luận hội thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhìn nhận ba thách thức cụ thể đối với khoa học biển Việt Nam hiện nay là nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và cách quản trị các nhiệm vụ khoa học. Ông dẫn thực tế một số ngành đào tạo như hải dương học còn khó tuyển sinh, trong khi nhiều trang thiết bị tại các cơ sở nghiên cứu đã lâu chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu nghiên cứu biển sâu.

Vấn đề thứ ba là cách đặt bài toán và tổ chức nguồn lực. Bộ trưởng dẫn trường hợp nhiệm vụ nhân giống tôm hùm tại Khánh Hòa phải gia hạn nhiều lần và cho rằng, với một bài toán khoa học lớn, nếu nguồn lực đầu tư còn nhỏ, thời gian ngắn, phòng thí nghiệm và nhân lực chưa tương xứng thì rất khó tạo ra kết quả đột phá. 

khu-tinh-te-van-phong-5_1786675757.jpg
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ “nghiên cứu về biển” sang từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, Nghị quyết số 20 đã đặt ra tư duy đổi mới mạnh mẽ, nhưng để hiện thực hóa cần thay đổi cách làm, cân bằng giữa những nhiệm vụ có khả năng tạo kết quả trước mắt với các chương trình cần được đầu tư dài hạn, bài bản. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục xác định thứ tự ưu tiên, đồng thời tăng kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương.

Đáng chú ý, Bộ trưởng cho biết đã yêu cầu sớm tổ chức một cuộc tọa đàm giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương về nuôi biển, nhân giống các loài thủy hải sản, coi đây là lĩnh vực có thể ưu tiên đầu tư để tạo ra kết quả phục vụ phát triển kinh tế biển trong thời gian tới.

Những vấn đề được đặt ra tại hội thảo cho thấy mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh không thể chỉ được đo bằng sản lượng khai thác, số lượng cảng biển hay quy mô các ngành kinh tế biển. Năng lực thực sự phải được hình thành từ khả năng hiểu biển bằng dữ liệu, dự báo được những biến động trên biển, làm chủ công nghệ, đào tạo được con người và chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ và năng lực quản trị. Từ nghiên cứu về biển đến làm chủ biển vì vậy không chỉ là thay đổi cách diễn đạt, mà là bước chuyển về tư duy, phương thức đầu tư và cách tổ chức nguồn lực phát triển.

 

Trung Nhân