Trong quá trình vận hành sản xuất, Công ty Nhiệt điện Na Dương – TKV xác định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ xuyên suốt, gắn chặt với an toàn sản xuất và hiệu quả hoạt động.
Từ kiểm soát khí thải, xử lý nước thải, quản lý tro xỉ đến quan trắc môi trường và ứng dụng công nghệ số, doanh nghiệp từng bước xây dựng mô hình nhà máy xanh, sạch, hiện đại và an toàn.
Là đơn vị sản xuất điện từ than, Công ty Nhiệt điện Na Dương – TKV (Công ty) luôn đặt yêu cầu kiểm soát phát thải lên hàng đầu. Hệ thống xử lý môi trường được vận hành đồng bộ, liên tục cùng các tổ máy, tập trung vào ba nhóm chính gồm khí thải, nước thải và tro xỉ.
Đối với khí thải, Nhà máy áp dụng công nghệ đốt đá vôi trực tiếp trong buồng đốt lò hơi để khử lưu huỳnh SO₂, kết hợp hệ thống lọc bụi tĩnh điện ESP hiệu suất cao. Hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục (CEMS) được duy trì để giám sát các thông số phát thải và truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý môi trường. Các chỉ số SO₂, NOx và bụi tổng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành đối với khí thải công nghiệp nhiệt điện.
Theo ông Trần Việt Anh, Phó Giám đốc Công ty Nhiệt điện Na Dương – TKV, cùng với duy trì ổn định các hệ thống xử lý hiện có, doanh nghiệp đang chủ động nghiên cứu những giải pháp mới nhằm giảm phát thải và nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường trong sản xuất.
“Công ty xác định kiểm soát phát thải phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, từ khâu vận hành thiết bị đến giám sát, quan trắc và xử lý. Đây vừa là yêu cầu về tuân thủ pháp luật, vừa là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng và môi trường địa phương”, ông Trần Việt Anh cho biết.
Cùng với khí thải, nước thải sản xuất được thu gom và xử lý tập trung bằng phương pháp keo tụ, lắng lọc trước khi tuần hoàn, tái sử dụng nội bộ cho các hoạt động như dập bụi, trộn tro xỉ. Cách làm này góp phần hạn chế lượng nước phải xả ra môi trường. Nước thải sinh hoạt được xử lý bằng công nghệ sinh học, bảo đảm xử lý toàn bộ lượng nước phát sinh từ hoạt động của cán bộ, công nhân viên.
Công ty Nhiệt điện Na Dương - TKV được thành lập theo Quyết định số 172/2003/QĐ-BCN ngày 24 tháng 10 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, trực thuộc Tổng Công ty than Việt Nam. Hiện nay, Công ty nhiệt điện Na Dương - TKV thuộc Tổng Công ty Điện lực TKV - CTCP.
Quản lý tro xỉ theo hướng giảm phát tán, tăng tái sử dụng
Tro xỉ là một trong những nguồn chất thải rắn phát sinh lớn trong quá trình sản xuất nhiệt điện. Tại Na Dương, lượng tro, xỉ khô phát sinh trung bình khoảng 250.000-300.000 tấn/năm, trong khi lượng tồn lưu lũy kế tại bãi chứa đã ở mức hơn 5,78 triệu tấn. Vì vậy, công tác thu gom, vận chuyển, lưu giữ và thúc đẩy tiêu thụ tro xỉ được Công ty đặc biệt quan tâm.
Tro xỉ từ hai lò hơi được thu giữ tự động, đưa về các silo chứa kín. Trước khi vận chuyển, tro xỉ được phun nước tạo ẩm với tỷ lệ phù hợp nhằm hạn chế phát tán bụi, sau đó rót xuống phương tiện chuyên dụng có bạt che kín. Tại bãi thải, Công ty thực hiện nghiêm quy trình đổ thải, lu lèn phân tầng, đầm nén và thường xuyên phun nước dập bụi bề mặt. Hệ thống tiêu thoát nước được duy trì nhằm bảo đảm an toàn, phòng ngừa nguy cơ phát sinh sự cố môi trường.
Đáng chú ý, Công ty đang thúc đẩy các phương án sử dụng tro xỉ theo hướng biến chất thải thành nguồn vật liệu có ích. Tro xỉ của Nhà máy đã được cấp chứng nhận hợp chuẩn làm vật liệu san lấp và phụ gia sản xuất xi măng. Doanh nghiệp phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu sử dụng tro, xỉ làm nền đường bê tông nông thôn tại Lạng Sơn và các tỉnh lân cận. Đồng thời tiếp tục tìm kiếm đối tác có năng lực để tiêu thụ ổn định, lâu dài.
Tro, xỉ của Công ty Nhiệt điện Na Dương - TKV đã được Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (Bộ Xây dựng) cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn tro xỉ nhiệt điện đốt than làm vật liệu san lấp và làm phụ gia khoáng xi măng. Hiện có một số đơn vị, doanh nghiệp đã sử dụng tro xỉ làm vật liệu xây dựng san lấp và phụ gia cho xi măng như: Công ty Cổ phần Xi măng Hồng Phong, Công ty Cổ phần Phú Quý 668... Nhờ đó, đã mang lại lợi ích kép, vừa góp phần đảm bảo môi trường, vừa đem lại giá trị kinh tế cho Công ty.
Song song với bảo vệ môi trường, chuyển đổi số đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và vận hành. Dây chuyền sản xuất của Nhà máy cơ bản được vận hành tự động thông qua hệ thống điều khiển phân tán DCS và các hệ thống PLC. DCS cho phép theo dõi, điều khiển nhiều thông số công nghệ như lưu lượng, nhiệt độ, áp suất,...
Hệ thống camera giám sát cũng được đầu tư, nâng cấp theo từng giai đoạn. Hiện Nhà máy có các hệ thống camera phục vụ an ninh, theo dõi sản xuất, giám sát an toàn, phòng cháy chữa cháy và kiểm soát phát thải, xả thải, đổ thải. Công ty đã xây dựng phương án lắp đặt camera AI nhằm tăng khả năng nhận diện, phân tích dữ liệu và nâng cao hiệu quả giám sát.
Chuyển đổi số không chỉ nhằm hiện đại hóa phương thức quản lý mà còn hướng tới nâng cao khả năng giám sát, cảnh báo và xử lý kịp thời những bất thường trong quá trình vận hành. Công ty đang từng bước số hóa dữ liệu vận hành, tích hợp thông tin về thiết bị, nhân sự, an ninh và sản xuất, hướng tới xây dựng nền tảng nhà máy thông minh, ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.
Hiện nay, Công ty đang triển khai dự án sổ giao ca và sổ nhật ký vận hành điện tử nhằm giúp các ca sản xuất ghi nhận đầy đủ diễn biến vận hành, tình trạng thiết bị, đồng thời hỗ trợ tổng hợp, tìm kiếm, thống kê dữ liệu. Hệ thống còn có khả năng cảnh báo khi thông số nhập vượt giới hạn, qua đó tăng cường kiểm tra, giám sát và quản lý từ xa.
Với cách tiếp cận đồng bộ giữa công nghệ sản xuất, kiểm soát môi trường và chuyển đổi số, Công ty Nhiệt điện Na Dương – TKV đang từng bước nâng cao chất lượng quản trị, giảm thiểu tác động môi trường và hướng tới phát triển sản xuất theo hướng an toàn, hiệu quả, bền vững.
Công tác cải tạo cảnh quan cũng được chú trọng thông qua trồng cây xanh, phát triển thảm cỏ tại các khu vực đất trống, góp phần tạo màng chắn bụi, giảm tiếng ồn và từng bước hoàn thiện hình ảnh nhà máy “Xanh - Sạch - Đẹp”, thân thiện với môi trường, ông Trần Việt Anh cho biết.