Những vách đá dạng cột được ghi nhận ở Chế Tạo - Lào Cai

Những vách đá dạng cột được ghi nhận ở Chế Tạo - Lào Cai

Chủ nhật, 11/10/2026, 18:14 (GMT+7)
logo Trong quá trình đo vẽ bản đồ địa chất tại xã Chế Tạo, tỉnh Lào Cai, nhóm tác giả thuộc Liên đoàn Bản đồ và Địa chất biển miền Bắc đã ghi nhận những vách đá ryolit porphyr có cấu tạo cột. Kết quả khảo sát bước đầu bổ sung tư liệu về đá núi lửa trong bồn trũng Tú Lệ và mở ra hướng nghiên cứu về giá trị khoa học, khả năng bảo tồn của điểm lộ.
anh-nhom-nghien-cuu_1791163748.png
Nhóm nghiên cứu thực địa, lấy mẫu tại các vách đá ở xã Chế Tạo, Lào Cai

Nhìn từ xa, các vách đá tại khu vực khảo sát có những đường nứt kéo dài, chia khối đá thành các cột gần đứng hoặc hơi xiên. Quan sát kỹ hơn, nhiều cột có mặt cắt dạng ngũ giác, lục giác. Hình thái ấy là phát hiện đáng chú ý được nhóm nghiên cứu: Hoàng Bá Quyết, Vũ Quang Lân, Đỗ Văn Thanh, Trần Ngọc Diễn và Nguyễn Văn Úc thuộc Liên đoàn Bản đồ và Địa chất biển miền Bắc ghi nhận trong quá trình thực hiện đề án đo vẽ bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Tú Lệ năm 2026.

Trong nghiên cứu “Phát hiện đá ryolit có cấu tạo cột ở khu vực Chế Tạo, tỉnh Lào Cai”, các nhà địa chất đã giới thiệu kết quả quan sát ngoài thực địa, mô tả mẫu đá và phân tích bước đầu về cơ chế hình thành hệ khe nứt. Điểm đáng chú ý của nghiên cứu khoa học này là xác định rõ những gì đã quan sát, đo đạc được, đồng thời chỉ ra những vấn đề chưa đủ dữ liệu để kết luận.

Cấu tạo cột hiện rõ trên các vách đá

Theo tài liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tại những vách đá được ghi nhận ở xã Chế Tạo, các khe nứt phân chia khối đá thành những dạng lăng trụ tiếp giáp nhau. Các cột gần thẳng đứng hoặc hơi xiên; mặt cắt thường có dạng ngũ giác hoặc lục giác. Bề ngang cột tại những vị trí được mô tả ước khoảng 0,5-1,0 m. Các vách lộ trên tuyến quan sát cao khoảng 30-100 m.

Đá có màu xám sáng, xám nâu đến xám hồng, một số nơi phớt tím. Để nhận diện thành phần đá, nhóm tác giả không chỉ dựa vào hình ảnh vách lộ mà còn thu thập mẫu, quan sát lát mỏng dưới kính hiển vi và phân tích thành phần hóa học. Sáu mẫu được mô tả lát mỏng đều được xác định là ryolit porphyr, có các tinh thể thạch anh và felspat kali nổi bật trong nền đá hạt nhỏ. Một số khoáng vật khác và dấu hiệu biến đổi khoáng vật cũng được ghi nhận trong các mẫu.

Kết quả phân tích hóa silicat của bốn mẫu cho thấy, hàm lượng SiO₂ dao động từ 67,36% đến 72%. Những dữ liệu này góp phần làm rõ đặc điểm thạch học của đá tại khu vực khảo sát. Tuy nhiên, thành phần mẫu đá và hình thái cột mới là những mảnh ghép ban đầu; để xác định đầy đủ quá trình hình thành điểm lộ, nhóm nghiên cứu cho rằng cần tiếp tục khảo sát quan hệ giữa các lớp đá và bổ sung các phân tích chuyên sâu.

Một con số trong nghiên cứu cần được hiểu đúng là diện phân bố của đá ryolit. Nhóm tác giả ghi nhận sơ bộ ba khu vực có đá ryolit hoặc ryolit porphyr trong phạm vi khảo sát, với tổng diện tích khoảng 40 km²; khu vực có diện phân bố đá lớn nhất, ở phía nam xã Chế Tạo, được ước tính khoảng 29 km². Đây là diện tích phân bố loại đá được báo cáo, không phải diện tích đã xác định có cấu tạo cột. Phạm vi riêng của các vách mang cấu tạo cột, số lượng điểm lộ và mức độ liên tục giữa chúng vẫn cần được thể hiện trên bản đồ khảo sát chi tiết.

vach-da-va-nguoi-mac-ao-mua_1791163283.png
Các cột đá gần đứng và hơi xiên ở một điểm lộ

Đá có thể tách thành những cột đa giác

Cấu tạo cột hình thành khi các khe nứt phát triển và chia khối đá thành những lăng trụ có nhiều cạnh. Hiện tượng này thường được biết đến qua các vách đá bazan, nhưng nghiên cứu địa chất cho thấy đá núi lửa giàu silica, trong đó có ryolit, cũng có thể xuất hiện cấu tạo tương tự.

Một cách giải thích là khi vật liệu núi lửa nguội đi, sự co ngót tạo ra ứng suất bên trong khối đá. Khi ứng suất vượt quá sức bền của đá, các khe nứt hình thành và tiếp tục phát triển. Hình thái những cột đá tại xã Chế Tạo phù hợp với cách giải thích bằng quá trình co ngót do nguội lạnh.

Tuy nhiên, quan sát được cột đá chưa đủ để xác định chính xác khối vật liệu đã nguội trong điều kiện nào. Từ ảnh vách lộ và các mẫu hiện có, nhóm tác giả chưa xác định được vị trí bề mặt làm nguội, chế độ nguội lạnh, cũng như chưa thể kết luận chắc chắn đá mang cấu tạo cột là sản phẩm của dòng dung nham hay của một dạng vật liệu núi lửa khác. Đây là lý do nghiên cứu sử dụng cách gọi thận trọng: đá ryolit hoặc ryolit porphyr có cấu tạo cột.

Để trả lời câu hỏi về nguồn gốc, các nhà địa chất cần quan sát mặt cắt địa tầng, tìm hiểu ranh giới tiếp xúc giữa các khối đá, nhận diện dấu hiệu dòng chảy và phân tích vi cấu tạo của mẫu. Việc đối chiếu đồng thời nhiều loại chứng cứ sẽ có giá trị hơn việc suy đoán chỉ từ hình dạng các cột trên một vách đá.

Tuổi hình thành của điểm lộ xã Chế Tạo cũng chưa được nghiên cứu này xác định trực tiếp. Các công bố trước đây về hoạt động núi lửa trong bồn trũng Tú Lệ giúp đặt phát hiện vào bối cảnh địa chất chung, song tuổi của mẫu đá ở nơi khác không thể tự động gán cho những vách đá vừa được khảo sát tại xã Chế Tạo.

picture1_1791162997.jpg
Ryolit porphyr tại khu vực khảo sát, mẫu TL.15803. (Theo tài liệu khảo sát của nhóm tác giả, 2026).

Thêm tư liệu về địa chất bồn trũng Tú Lệ

Bồn trũng Tú Lệ là khu vực có các thành tạo núi lửa đa dạng. Trong bối cảnh đó, những vách ryolit porphyr có cấu tạo cột ở xã Chế Tạo cung cấp thêm tư liệu thực địa về đặc điểm cấu tạo của đá núi lửa. Giá trị trước mắt của nghiên cứu nằm ở việc ghi nhận điểm lộ, mô tả hình thái cột và bước đầu đối chiếu với thành phần mẫu đá.

Từ kết quả này, các nhà nghiên cứu có thể đặt ra những câu hỏi cụ thể hơn: Các vách có cấu tạo cột phân bố đến đâu? Hướng và kích thước cột có thay đổi giữa các điểm lộ không? Khối đá hình thành trong môi trường nào và vào thời kỳ nào? Trả lời được những câu hỏi ấy sẽ giúp hoàn thiện hiểu biết về lịch sử địa chất của khu vực, đồng thời tạo cơ sở khoa học để đánh giá giá trị của điểm lộ.

Hình thái cột cũng có thể trở thành tư liệu trực quan cho hoạt động học tập, khảo sát địa chất ngoài thực địa. Tuy nhiên, nhóm tác giả không xem tiềm năng giáo dục hay cảnh quan là căn cứ đủ để lập tức xếp hạng di sản hoặc mở tuyến tham quan. Một địa điểm muốn được giới thiệu và sử dụng lâu dài cần có hồ sơ khoa học rõ ràng, phương án bảo tồn và đánh giá các điều kiện thực tế.

Riêng với xã Chế Tạo, những vấn đề cần khảo sát thêm gồm độ ổn định của vách đá, khả năng tiếp cận, hiện trạng đất đai, ảnh hưởng có thể có đối với hệ sinh thái và ý kiến của cộng đồng địa phương. Nghiên cứu hiện tại cũng chưa đưa ra căn cứ để khẳng định đây là điểm đá ryolit dạng cột đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam hoặc xác định điểm lộ thuộc một cấp giá trị di sản địa chất cụ thể.

dsc06871_1791162484.jpg
Nhóm nghiên cứu khoa học thực địa tại xã Chế Tạo, Lào Cai

Từ phát hiện thực địa đến hồ sơ khoa học đầy đủ

Để tiếp tục nghiên cứu, nhóm nghiên cứu kiến nghị lập bảng tọa độ và bản đồ riêng cho những vách có cấu tạo cột, thay vì chỉ thể hiện diện phân bố chung của đá ryolit. Mỗi điểm lộ cần được đo đạc, mô tả và đối chiếu với mặt cắt địa chất, ảnh hiện trường, mẫu đá tương ứng.

Cùng với đó là việc hoàn thiện mô tả lát mỏng, phân tích địa hóa và khảo sát quan hệ tiếp xúc giữa các loại đá nhằm làm rõ nguồn gốc khối đá mang cấu tạo cột. Khi lựa chọn được mẫu và phương pháp phù hợp, việc xác định tuổi trực tiếp sẽ giúp đặt phát hiện vào trình tự hoạt động địa chất của khu vực. Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất, điều tra bổ sung các điểm lộ khác trong đới Tú Lệ để có cơ sở so sánh.

Những vách đá ở xã Chế Tạo vì thế là một kết quả khảo sát đáng chú ý, đồng thời là điểm khởi đầu cho công việc còn tiếp diễn. Từ quan sát hình thái cột đến xác định nguồn gốc, tuổi thành tạo và giá trị bảo tồn là một quá trình cần thêm chứng cứ. Chính cách tiếp cận thận trọng ấy giúp phát hiện thực địa được giới thiệu đúng với giá trị hiện có và tạo nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo.

Khảo sát năm 2026 của nhóm nghiên cứu đã ghi nhận những vách đá ryolit porphyr có khe nứt dạng cột ở khu vực Chế Tạo, tỉnh Lào Cai. Những hình ảnh và mô tả ban đầu cho thấy cột gần đứng hoặc hơi xiên, mặt cắt thường ngũ giác hoặc lục giác; các mẫu đã mô tả có ban tinh thạch anh và felspat kali. Đây là kết quả quan sát có ý nghĩa cho việc bổ sung tư liệu về cấu tạo đá núi lửa trong bồn trũng Tú Lệ.

Để xác định giá trị khoa học và khả năng bảo tồn, nhóm nghiên cứu đã đưa ra đề xuất, cần: (i) lập bảng tọa độ, bản đồ điểm lộ và ranh giới của riêng các vách có cấu tạo cột, kèm mặt cắt và số đo từng điểm; (ii) hoàn thiện mô tả lát mỏng, phân tích địa hóa và đối chiếu quan hệ tiếp xúc để làm rõ loại đá, môi trường thành tạo; (iii) chỉ định tuổi trực tiếp khi có mẫu và phương pháp thích hợp; (iv) điều tra bổ sung các điểm lộ trong đới Tú Lệ, đồng thời đánh giá an toàn, hiện trạng bảo tồn và nhu cầu của cộng đồng trước khi đề xuất sử dụng cho giáo dục hoặc du lịch địa chất.

Nguồn: Hoàng Bá Quyết, Vũ Quang Lân, Đỗ Văn Thanh, Trần Ngọc Diễn và Nguyễn Văn Úc, “Phát hiện đá ryolit có cấu tạo cột ở khu vực Chế Tạo, tỉnh Lào Cai”; tài liệu khảo sát và mô tả mẫu do nhóm tác giả cung cấp.

 

Hồng Minh