Nghị quyết 57-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực then chốt trong phát triển đất nước. Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết, Trường Đại học Lâm nghiệp đang triển khai các giải pháp thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với PGS, TS. Hoàng Anh Huy, Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp về những định hướng và giải pháp trọng tâm.
PV: Thưa ông, Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để tạo bước phát triển đột phá. Trường Đại học Lâm nghiệp đã cụ thể hóa những định hướng này vào chiến lược phát triển nhà trường, hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học như thế nào?
PGS, TS. Hoàng Anh Huy: Điểm thay đổi quan trọng nhất sau Nghị quyết 57 là Nhà trường chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu “thực hiện nhiệm vụ” sang tạo ra sản phẩm, ứng dụng và giá trị thực tiễn.
Đảng ủy và Ban Giám hiệu đã cụ thể hóa bằng Nghị quyết chuyên đề và Kế hoạch giai đoạn 2026-2030 với 14 chỉ tiêu chủ yếu, 21 nhiệm vụ trọng tâm thuộc 6 nhóm. Đến năm 2030, Trường phấn đấu tăng công bố Scopus/WoS bình quân 12-15%/năm; hình thành 8-10 nhóm nghiên cứu liên ngành, nhóm nghiên cứu mạnh; có ít nhất 20 giải pháp hữu ích, tiến bộ kỹ thuật, giống cây trồng hoặc tài sản trí tuệ được chấp nhận, công nhận; thực hiện tối thiểu 10 nhiệm vụ KHCN hằng năm theo đặt hàng của doanh nghiệp, địa phương hoặc cơ quan quản lý; doanh thu chuyển giao công nghệ và dịch vụ KHCN tăng bình quân 15%/năm.
Trong đào tạo, Trường tăng cường năng lực số, nghiên cứu khoa học sinh viên, học liệu số và mô hình “kỳ doanh nghiệp”. Trong nghiên cứu, yêu cầu ngày càng rõ hơn ngay từ đầu: sản phẩm gì, ai sử dụng, ứng dụng ở đâu và khả năng chuyển giao như thế nào.
PV: Trường Đại học Lâm nghiệp có thế mạnh về nghiên cứu lâm nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phát triển nông thôn. Nhà trường đang ưu tiên những hướng nghiên cứu, công nghệ mới nào để giải quyết các vấn đề thực tiễn như quản lý rừng bền vững, giám sát tài nguyên, ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải và phát triển kinh tế xanh?
PGS, TS. Hoàng Anh Huy: Phát huy những thế mạnh truyền thống đã được khẳng định qua nhiều năm, nhà trường hiện đang định hướng nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi như quản lý và phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, Chúng tôi không chạy theo tất cả công nghệ mới, mà lựa chọn công nghệ phù hợp để giải quyết những bài toán Trường có thế mạnh. Trọng tâm là kết hợp AI, dữ liệu lớn, GIS, viễn thám, UAV, LiDAR và công nghệ địa không gian với khoa học lâm nghiệp để phục vụ điều tra, giám sát rừng, trữ lượng và sinh khối, carbon rừng, mất rừng và suy thoái rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, truy xuất nguồn gốc và EUDR. Năm 2026, Trường đã triển khai các nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ trữ lượng và sinh khối rừng bằng LiDAR/UAV, hệ thống thông minh ứng dụng AI, GIS cho quản lý cháy rừng, du lịch sinh thái và xác minh sản phẩm không gây mất rừng.
Song song là các hướng công nghệ sinh học, chế biến gỗ - vật liệu - thiết bị, tận dụng phụ phẩm lâm nghiệp, tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn và nông lâm kết hợp. Mục tiêu là biến tri thức khoa học thành dữ liệu, công nghệ, thiết bị, quy trình và mô hình có thể sử dụng trực tiếp trong quản lý và sản xuất.
PV: Chuyển đổi số đang mở ra nhiều phương thức mới trong quản lý tài nguyên và sản xuất lâm nghiệp. Nhà trường đang ứng dụng AI, dữ liệu lớn, GIS, viễn thám, IoT hoặc các nền tảng số vào nghiên cứu, đào tạo và quản lý rừng ra sao? Hiệu quả bước đầu như thế nào?
PGS, TS. Hoàng Anh Huy: Nhà trường triển khai chuyển đổi số theo hai hướng: chuyển chính Nhà trường thành một đại học vận hành ngày càng dựa trên dữ liệu, đồng thời sử dụng công nghệ số để giải quyết các bài toán của ngành. Hiện 100% văn bản chỉ đạo, điều hành hành chính, trừ văn bản mật, được số hóa và xử lý trên môi trường điện tử; các hệ thống đào tạo, thư viện số và cơ sở dữ liệu tiếp tục được chuẩn hóa. Trong nghiên cứu, đã có những sản phẩm cụ thể như Forestry 4.0 - nền tảng Web/Mobile phục vụ thu thập, quản lý và chia sẻ dữ liệu lâm nghiệp; các giải pháp LiDAR/UAV, WebGIS, AI được ứng dụng trong giám sát tài nguyên rừng, sinh khối carbon, cháy rừng ….
Những kết quả ban đầu này nâng cao chất lượng đào tạo, tạo tiền đề vững chắc cho các nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn trong giai đoạn sắp tới.
PV: Một yêu cầu quan trọng của Nghị quyết 57 là tăng cường gắn nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp và thực tiễn sản xuất. Trường Đại học Lâm nghiệp đang có những cơ chế, mô hình nào để thúc đẩy hợp tác với doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức nghiên cứu, qua đó đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào sản xuất, kinh doanh và quản lý tài nguyên?
Quan điểm của Trường là doanh nghiệp và địa phương không chỉ xuất hiện ở cuối quá trình để nhận chuyển giao, mà cần tham gia từ khâu xác định đặt hàng, đồng nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Đã có một số mô hình cho thấy hướng đi này như: Quy trình nghiên cứu Nấm lim được doanh nghiệp tiếp nhận và phát triển thành sản phẩm Nấm lim Thiên Phúc, được công nhận OCOP 3 Sao năm 2025; Hộ chiếu Vườn quốc gia là mô hình hợp tác giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu và các vườn quốc gia. Tuy vậy, chúng tôi nhìn nhận thẳng rằng thương mại hóa vẫn là khâu còn phải cải thiện trong thời gian tới.
Vì vậy, giai đoạn tới Trường sẽ thúc đẩy mô hình “3 Nhà” theo chuỗi: nhu cầu thực tiễn - đặt hàng - đồng nghiên cứu - pilot/thử nghiệm - tiếp nhận - chuyển giao - thương mại hóa. Mô hình hợp tác này giúp đưa các kết quả nghiên cứu ứng dụng từng bước vào thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên có cơ hội cọ xát, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động
PV: Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 57 trong giai đoạn tới, theo ông, Trường Đại học Lâm nghiệp cần tập trung vào những nhiệm vụ, đột phá nào về nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu, cơ chế tài chính, dữ liệu và hợp tác quốc tế? Nhà trường kỳ vọng gì từ các chính sách hỗ trợ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?
PGS, TS. Hoàng Anh Huy: Giai đoạn tới, điều quan trọng là tập trung nguồn lực để hình thành một số năng lực nghiên cứu thực sự mạnh.
Trước hết là phát triển đội ngũ và nhóm nghiên cứu về AI, dữ liệu, tự động hóa, GIS - viễn thám, công nghệ sinh học, chế biến gỗ - vật liệu, carbon và kinh tế tuần hoàn; đồng thời thu hút chuyên gia giỏi và chuyên gia từ doanh nghiệp.
Thứ hai là đầu tư hạ tầng dùng chung về dữ liệu, tính toán và hệ thống pilot, thử nghiệm, trình diễn công nghệ. Trường hiện có nhiều phòng thí nghiệm, thực hành tại cơ sở Xuân Mai, nhưng năng lực đưa kết quả từ phòng thí nghiệm lên quy mô pilot và thị trường vẫn cần được tăng cường.
Thứ ba là tháo gỡ các điểm nghẽn về định giá kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, đặt hàng, thử nghiệm, mua sắm sản phẩm KHCN và thương mại hóa.
Nhà trường kỳ vọng Bộ Nông nghiệp và Môi trường tạo điều kiện để Trường tham gia ngay từ khâu xác định những bài toán lớn của ngành, tăng đặt hàng nhiệm vụ theo thế mạnh, kết nối với các Cục, Vụ, địa phương và doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ đầu tư hạ tầng nghiên cứu trọng điểm và hợp tác quốc tế. Mục tiêu là từng bước xây dựng Trường Đại học Lâm nghiệp trở thành một trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có khả năng cung cấp dữ liệu, công nghệ, giải pháp và nguồn nhân lực chất lượng cao cho các bài toán về rừng, tài nguyên, môi trường và kinh tế xanh.
Chúng tôi rất mong mỏi và kỳ vọng Đảng, Nhà nước cùng các bộ, ban, ngành liên quan sẽ tiếp tục có những cơ chế, chính sách hỗ trợ thiết thực hơn nữa. Đặc biệt là các cơ chế tài chính linh hoạt và nguồn lực đầu tư tương xứng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cơ sở giáo dục đại học phát huy tối đa năng lực đổi mới sáng tạo, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!