Xuất bản: Thứ năm, 21/5/2026, 14:39 (GMT+7)

anh-trinh-9_1779269115.png

TỪ “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP” SANG “KINH TẾ NÔNG NGHIỆP”

Theo PGS, TS. Mai Văn Trịnh, mục tiêu ban đầu của Đề án không chỉ dừng ở việc hình thành vùng chuyên canh lúa chất lượng cao quy mô lớn cho ĐBSCL, mà còn nhằm nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong nhiều năm, Việt Nam luôn nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhưng giá trị hạt gạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Chính vì vậy, tư duy sản xuất của ngành nông nghiệp buộc phải thay đổi: không chỉ chạy theo sản lượng mà phải hướng tới hiệu quả kinh tế, chất lượng và tính bền vững.

“Đây là giai đoạn ngành nông nghiệp chuyển mạnh từ tư duy ‘sản xuất nông nghiệp’ sang ‘kinh tế nông nghiệp’. Nghĩa là không chỉ quan tâm năng suất mà phải chú trọng giá trị gia tăng và hiệu quả lâu dài”, ông Trịnh nhấn mạnh.

Điểm đặc biệt của Đề án là được triển khai đồng thời với cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam theo mục tiêu Net Zero vào năm 2050. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tích hợp hai mục tiêu song song: sản xuất lúa chất lượng cao và giảm phát thải.

Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng ưu tiên các sản phẩm có “dấu vết carbon thấp”, đây được xem là hướng đi chiến lược để nâng cao sức cạnh tranh của gạo Việt Nam.

bai-e-2_1779266836.jpg

THAY ĐỔI TỪ NHỮNG THÓI QUEN CANH TÁC

Qua quá trình triển khai, Đề án đã chỉ ra hàng loạt tồn tại trong tập quán sản xuất lúa lâu nay tại ĐBSCL.

Một trong những vấn đề lớn nhất là tình trạng gieo sạ quá dày. Trong khi nhiều địa phương miền Bắc chỉ sử dụng khoảng 30 kg giống/ha thì tại ĐBSCL, mức phổ biến vẫn lên tới 200 kg/ha. Việc gieo dày khiến cây cạnh tranh dinh dưỡng, sâu bệnh phát triển mạnh và làm tăng chi phí sản xuất.

Không chỉ giống, lượng phân đạm sử dụng cũng vượt xa nhu cầu thực tế. Nhiều khảo sát cho thấy nông dân bón đạm cao hơn khoảng 170% so với khuyến cáo. Phần dư thừa không được cây hấp thụ sẽ phát thải vào môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước và gia tăng khí nhà kính.

bai-e-3_1779266570.jpg

GIẢM ĐẦU VÀO, TĂNG LỢI NHUẬN

Sau hơn 2 năm triển khai, 11 mô hình điểm quy mô 50 ha tại các tỉnh ĐBSCL đã cho thấy những kết quả rõ rệt.

Lượng giống gieo sạ giảm mạnh từ khoảng 200 kg xuống còn 70 - 80 kg/ha. Lượng phân đạm cũng giảm từ khoảng 120 kg N xuống còn khoảng 76 kg N/ha. Tuy nhiên, năng suất không giảm mà còn tăng khoảng 10%.

Theo PGS, TS. Mai Văn Trịnh, điều này cho thấy trước đây người dân đã sử dụng vật tư đầu vào vượt quá nhu cầu cần thiết.

Khi mật độ gieo sạ giảm, ruộng lúa thông thoáng hơn, nhận nhiều ánh sáng hơn nên sâu bệnh giảm mạnh, có nơi giảm tới 80 - 90%. Đồng thời, chi phí đầu vào cũng giảm đáng kể nhờ tiết kiệm giống và phân bón.

Không chỉ tiết kiệm chi phí, chất lượng lúa được cải thiện giúp giá trị đầu ra tăng lên, kéo theo lợi nhuận của nông dân tăng rõ rệt.

Theo tính toán từ các mô hình, lượng phát thải giảm bình quân khoảng 3,7 - 4,6 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Nếu canh tác hai vụ mỗi năm, lượng giảm phát thải đạt khoảng 7 - 9 tấn CO₂ tương đương/ha/năm.

“Nông nghiệp xanh không chỉ là giảm phát thải mà còn phải giúp người dân tăng thu nhập. Khi nông dân thấy chi phí giảm nhưng lợi nhuận tăng, họ sẽ tự nguyện thay đổi”, ông Trịnh chia sẻ.

MRV - “XƯƠNG SỐNG” CỦA ĐỀ ÁN GIẢM PHÁT THẢI

mrv-2_1779268400.png

Viện đã phối hợp với nhiều chuyên gia quốc tế từ WB, IRRI, Nhật Bản cùng các tổ chức chứng nhận carbon như Verra, Gold Standard để xây dựng phương pháp luận và sổ tay hướng dẫn MRV.

Đặc biệt, toàn bộ quy trình được số hóa thông qua phần mềm trực tuyến. Các tổ MRV cấp cơ sở sử dụng điện thoại thông minh để cập nhật dữ liệu canh tác theo thời gian thực nhằm đảm bảo tính minh bạch.

Riêng đối với kỹ thuật tưới khô xen kẽ, cán bộ MRV phải trực tiếp theo dõi từng giai đoạn rút nước, đo mực nước trong giếng quan trắc và cập nhật hình ảnh hiện trường lên hệ thống.

Kết quả cho thấy, tại các mô hình trước đây chưa áp dụng AWD, lượng giảm phát thải có nơi đạt tới 8 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ.

NGHỊ QUYẾT 57 - “CÚ HÍCH” CHO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP

Theo PGS, TS. Mai Văn Trịnh, Nghị quyết 57-NQ/TW đã tạo ra bước mở rất quan trọng cho hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp.

Tinh thần “cởi trói” cho nghiên cứu khoa học giúp các nhà khoa học tự tin hơn trong việc triển khai các mô hình mới, đồng thời thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp và các tổ chức tham gia vào Đề án.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân đã chủ động đầu tư mở rộng các mô hình canh tác giảm phát thải mà không chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

bai-e-4_1779267001.jpg

Tuy nhiên, theo ông Trịnh, thách thức hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống giám sát, thống kê và lượng hóa mức độ áp dụng thực tế của người dân để đảm bảo tính đồng bộ khi nhân rộng mô hình.

GIẢI BÀI TOÁN RƠM RẠ - “MẮT XÍCH” QUAN TRỌNG CỦA NÔNG NGHIỆP XANH

Một trong những bài toán lớn nhất hiện nay là xử lý rơm rạ sau thu hoạch.

Theo nghiên cứu của Viện Môi trường Nông nghiệp, nếu vùi rơm rạ tươi xuống ruộng trong điều kiện ngập nước, lượng phát thải khí mê-tan có thể tăng gấp 1,5 - 2,6 lần so với bình thường.

Tuy nhiên, nếu kéo dài thời gian phân hủy trên 30 ngày hoặc chuyển sang sản xuất compost, lượng phát thải có thể giảm tới 79 -  83%.

Ngoài ra, việc sử dụng chế phẩm vi sinh cũng giúp rút ngắn thời gian phân hủy, hạn chế ngộ độc hữu cơ và giảm cạnh tranh dinh dưỡng với cây lúa.

anh-trinh-8_1779267266.png

KỲ VỌNG VỀ MỘT THƯƠNG HIỆU GẠO PHÁT THẢI THẤP

Sau hơn 2 năm triển khai, Đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp” không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn từng bước hình thành nền tảng cho chiến lược xây dựng thương hiệu gạo xanh của Việt Nam.

Sự thay đổi trong tư duy sản xuất của nông dân, cùng với vai trò đồng hành của khoa học công nghệ, doanh nghiệp và chính sách đang mở ra cơ hội để ngành lúa gạo Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ.

Trong tương lai, hạt gạo Việt Nam không chỉ cạnh tranh bằng sản lượng hay chất lượng, mà còn bằng giá trị xanh và dấu vết carbon thấp – yếu tố ngày càng trở thành “tấm vé thông hành” trên thị trường quốc tế.

Sỹ Tùng - Mạnh Hải
  • Tăng cường phối hợp triển khai dự án giảm chất gây hiệu ứng nhà kính hướng tới thực hiện hiệu quả Nghị định thư Montreal

    Tăng cường phối hợp triển khai dự án giảm chất gây hiệu ứng nhà kính hướng tới thực hiện hiệu quả Nghị định thư Montreal

    Sau hơn ba thập kỷ tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal, Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới trong lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn và giảm phát thải khí nhà kính. Những yêu cầu về loại trừ dần các chất HCFC, giảm tiêu thụ HFC theo Bản sửa đổi Kigali không chỉ đòi hỏi chuyển đổi công nghệ mà còn đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực quản lý, đào tạo nguồn nhân lực và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp.

  • Lai Châu kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước

    Lai Châu kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước

    Theo ông Vũ Xuân Tính, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Tài nguyên nước (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lai Châu) để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước, tỉnh Lai Châu sẽ hoàn thiện các quy hoạch, kế hoạch, điều tra cơ bản, bảo vệ nguồn nước và kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định.

  • Doanh nghiệp Việt bứt phá từ kinh tế carbon song hành nỗi lo thiếu hụt nhân sự

    Doanh nghiệp Việt bứt phá từ kinh tế carbon song hành nỗi lo thiếu hụt nhân sự

    Dù mang lại vận hội mới, kinh tế carbon đặt hơn 2.000 doanh nghiệp Việt trước áp lực sinh tồn khắt khe từ các quy định như CBAM. Thách thức này càng lớn khi thị trường thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực xanh chất lượng cao để vận hành cuộc chơi.

  • Kích hoạt tăng trưởng kinh tế hai con số bằng chính sách vi mô đột phá

    Kích hoạt tăng trưởng kinh tế hai con số bằng chính sách vi mô đột phá

    Sáng 14/7, tại Hà Nội, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”. Diễn đàn có sự tham gia của một số bộ ngành, cơ quan Trung ương, chuyên gia kinh tế, nhà khoa học, đại diện các trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp.

  • Tinh gọn hệ thống pháp luật để khơi thông nguồn lực phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường

    Tinh gọn hệ thống pháp luật để khơi thông nguồn lực phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường

    Hoàn thiện thể chế đang được xác định là một trong những đột phá chiến lược để khơi thông nguồn lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, quá trình rà soát, sắp xếp và tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không chỉ nhằm giảm số lượng văn bản hay đơn giản hóa thủ tục hành chính, mà còn hướng tới xây dựng một nền quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, quyết tâm đổi mới mạnh mẽ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc đưa thể chế thực sự trở thành động lực phát triển.