news
Xuất bản: Thứ năm, 29/1/2026, 09:43 (GMT+7)

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-800-px-2_1769577258.jpg

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-16_1769572586.jpg

 

PV: Với vai trò là Trưởng Bộ môn Bệnh học phân tử, ông có thể chia sẻ những kết quả nổi bật nhất mà bộ môn và Viện Di truyền Nông nghiệp đã đạt được trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen thời gian qua?

PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Tôi cho rằng Viện Di truyền Nông nghiệp rất may mắn khi được Nhà nước giao nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chỉnh sửa gen từ khá sớm. Đây là một trong những đơn vị gần như đầu tiên ở Việt Nam tiếp cận và nghiên cứu lĩnh vực này. Ngay từ năm 2017, nhóm nghiên cứu của tôi đã trực tiếp nhận nhiệm vụ từ Bộ NN&MT (khi đó là Bộ NN&PTNT) và Ban lãnh đạo Viện để triển khai đề tài cấp Nhà nước đầu tiên về chỉnh sửa gen trên giống lúa Bắc Thơm 7. Đến nay, Viện đã triển khai được nhiều nghiên cứu liên quan đến chỉnh sửa gen. Với vai trò tiên phong, chúng tôi đã tiếp cận, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài và từng bước làm chủ công nghệ. Hiện nay, có thể khẳng định Viện đã hoàn toàn làm chủ công nghệ chỉnh sửa gen, đặc biệt trên đối tượng cây lúa và ngô.

Trên cơ sở các công nghệ được chuyển giao, chúng tôi tiếp tục phát triển, mở rộng và làm chủ công nghệ này trên nhiều đối tượng cây trồng khác. Hiện nay, Viện đã có các nghiên cứu trên ngô, đậu tương, cà chua, khoai tây và đang bắt đầu triển khai trên các cây công nghiệp như mía, sắn; trong thời gian tới có thể mở rộng sang cà phê, chuối và một số loại cây ăn quả.

Ở giai đoạn đầu, Viện tập trung chủ yếu vào việc tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, với định hướng nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng, chúng tôi đã trực tiếp áp dụng công nghệ chỉnh sửa gen trên các giống lúa đang sản xuất như Bắc Thơm 7 và TBR225, tập trung vào những tính trạng mà thực tiễn sản xuất đang quan tâm, như tính kháng bệnh bạc lá. Như vậy, chúng tôi thực hiện song song hai nhiệm vụ, vừa nghiên cứu cơ bản để làm chủ công nghệ, vừa hướng tới ứng dụng. Từ đó, Viện đã tạo ra các dòng lúa kháng bệnh bạc lá bằng công nghệ chỉnh sửa gen. Các dòng này đã được đánh giá qua nhiều thế hệ và hiện nay đang được lưu giữ và trong hệ thống nhà lưới của Viện Di truyền Nông nghiệp. Đây có thể coi là một trong những thành tựu lớn nhất trong nghiên cứu chỉnh sửa gen của Viện cho đến nay.

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-17_1769572845.jpg

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-7_1769568230.jpg

PV: Từ thực tiễn nghiên cứu, theo ông điểm mạnh lớn nhất của công nghệ chỉnh sửa gen khi áp dụng vào chọn tạo giống và phòng, chống bệnh cây trồng là gì so với các phương pháp trước đây?

PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Ưu điểm nổi bật của công nghệ này là khả năng tác động trực tiếp và chính xác vào các gen quy định các tính trạng mong muốn. Đối với những giống có chất lượng tốt nhưng năng suất còn hạn chế hay chống chịu kém, công nghệ chỉnh sửa gen cho phép can thiệp trực tiếp vào các gen liên quan đến năng suất hay khả năng chống chịu để cải thiện sản lượng. Ngược lại, với các giống có năng suất cao, chống chịu tốt nhưng chất lượng chưa đạt yêu cầu, có thể chỉnh sửa các tính trạng về chất lượng nhằm nâng cao giá trị thương mại. Đặc biệt, thời gian thực hiện các nghiên cứu chọn giống bằng chỉnh sửa gen tương đối ngắn, chỉ khoảng 2 - 3 năm đã có thể cải tiến được một tính trạng, giúp giá trị nông sản nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

Về bản chất, chỉnh sửa gen là “sửa chữa” những gen “chưa tối ưu” trong hệ gen cây trồng. Trong tự nhiên, các loài cây hoang dại thường có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi rất tốt. Tuy nhiên, qua quá trình thuần hóa nhằm đáp ứng yêu cầu về năng suất và chất lượng, nhiều đặc tính tự nhiên này đã bị suy giảm. Công nghệ chỉnh sửa gen cho phép phục hồi hoặc cải thiện những đặc tính đó, trong khi vẫn giữ được các đặc điểm, năng suất và chất lượng của giống cây trồng hiện tại. Ưu điểm quan trọng của phương pháp này là tạo ra sản phẩm cuối cùng không chứa DNA ngoại lai.

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-11_1769569751.jpg

PV: Ở góc độ khoa học, ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của các sản phẩm chỉnh sửa gen hiện nay để bước sang giai đoạn thử nghiệm và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất?

PGS, TS Nguyễn Duy Phương: Về mặt khoa học, Việt Nam đã đi đúng hướng khi chủ động làm chủ nền tảng công nghệ từ sớm. Thực tế, các sản phẩm từ đề tài nghiên cứu của Viện đã ở trạng thái rất sẵn sàng, có những dự án đã kết thúc cách đây 4 đến 5 năm, sản phẩm vẫn được đánh giá liên tục để khẳng định tính ổn định. Về mặt lý thuyết và kỹ thuật, các sản phẩm này hoàn toàn có thể đưa vào sản xuất ngay.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay chính là hành lang pháp lý. Để đưa sản phẩm ra thị trường, chúng ta cần một lộ trình quản lý rõ ràng. Dù về mặt nguyên lý khoa học, sản phẩm chỉnh sửa gen không chứa ADN ngoại lai nhưng các cơ quan quản lý vẫn cần xác định xem chúng sẽ được phân loại và kiểm soát như thế nào. Chỉ khi có được những hướng dẫn và khung pháp lý cụ thể, rõ ràng, các thành tựu khoa học này mới có thể chính thức phục vụ sản xuất. 

Vấn đề hiện nay không nằm ở tính hiệu quả của sản phẩm vì các đặc tính này đã được chứng minh kỹ lưỡng ở quy mô phòng thí nghiệm. Nhu cầu cấp thiết hiện tại là đưa sản phẩm ra thử nghiệm ở quy mô lớn hơn, cụ thể là quy mô đồng ruộng, để người nông dân có thể trực tiếp trải nghiệm và đánh giá giá trị thực tế. Tuy nhiên, để thực hiện được bước này, các nhà khoa học vẫn đang phải chờ đợi sự ra đời của một hành lang pháp lý cụ thể.

Vừa qua, Nghị quyết 57-NQ/TW đã nhấn mạnh việc cần thiết phải đẩy nhanh các thủ tục pháp lý liên quan. Các cơ quan chức năng đang tích cực lấy ý kiến từ giới chuyên gia để xây dựng quy định riêng cho cây trồng chỉnh sửa gen. 

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-10_1769569392.jpg

PV: Nhìn từ thực tiễn nghiên cứu, theo ông điều gì là yếu tố then chốt để công nghệ chỉnh sửa gen có thể phát huy đầy đủ tiềm năng của mình trong nông nghiệp Việt Nam?

PGS, TS Nguyễn Duy Phương: Để ứng dụng và phát triển mạnh mẽ công nghệ này tại Việt Nam, theo tôi, chúng ta cần tập trung vào hai vấn đề chính.

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-1600-x-500-px-1600-x-200-px-2_1769578351.jpg

Thứ nhất là việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh. Chúng ta không chỉ cần những cá nhân xuất sắc mà cần những tập thể nghiên cứu có sự gắn kết, đủ năng lực để làm chủ các công nghệ lõi. Hiện nay, thế giới đã đi trước chúng ta rất xa, họ đã đăng ký bản quyền cho nhiều hệ thống chỉnh sửa gen hiện đại. Vì vậy, Việt Nam cần nguồn kinh phí đầu tư tập trung và thỏa đáng từ Nhà nước cũng như các tổ chức để không chỉ ứng dụng mà còn hướng tới việc tự phát triển các công nghệ chỉnh sửa gen của riêng mình. Có như vậy, chúng ta mới chủ động được trong việc cải tiến các đối tượng cây trồng đặc thù mang lại giá trị kinh tế cao cho Việt Nam.

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-1600-x-500-px-1600-x-200-px-3_1769578369.jpg

Thứ hai, một yếu tố cực kỳ quan trọng là công tác truyền thông và nhận thức xã hội. Chúng ta cần làm cho cộng đồng, đặc biệt là các nhà quản lý, hiểu rõ bản chất khoa học của chỉnh sửa gen. Khi xã hội có cái nhìn thấu đáo, bớt đi những e ngại cảm tính, thì việc xây dựng hành lang pháp lý sẽ nhận được sự đồng thuận cao, giúp rút ngắn con đường đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra đến tay bà con nông dân.

Việt Nam có nền tảng khoa học tốt, có sự quan tâm sát sao của Đảng và Chính phủ thông qua những chủ trương như Nghị quyết 57-NQ/TW hay việc đưa chỉnh sửa gen vào danh mục 11 công nghệ chiến lược quốc gia. Nếu chúng ta giải quyết tốt bài toán pháp lý và đầu tư đúng mức cho nhân lực, tôi tin rằng chỉ trong thời gian ngắn tới, Việt Nam sẽ hiện thực hóa được các sản phẩm chỉnh sửa gen vào sản xuất. Những hạt giống này không chỉ giúp tăng năng suất, nâng cao chất lượng nông sản để xuất khẩu, mà còn là công cụ hữu hiệu giúp cây trồng của chúng ta thích ứng tốt hơn với tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức khắc nghiệt. Đó chính là chìa khóa để nâng tầm vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

chua-co-ten-1600-x-1200-px-1600-x-900-px-1600-x-1200-px-1600-x-500-px-19_1769577706.jpg

 

Khánh Linh
  • Nuôi tôm công nghệ cao: Chìa khóa nâng giá trị thủy sản

    Nuôi tôm công nghệ cao: Chìa khóa nâng giá trị thủy sản

    Từng nhiều lần đối mặt với cảnh tôm chết hàng loạt, năng suất sụt giảm vì biến đổi khí hậu và dịch bệnh, ông Lê Văn Phương ở thôn Châu Triều, xã Hoằng Châu, tỉnh Thanh Hóa đã mạnh dạn đầu tư nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao. Quyết định chuyển đổi không chỉ giúp gia đình ông đạt doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm mà còn mở ra hướng phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững cho địa phương.

  • PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi: Hướng tới Scopus cần bắt đầu từ việc tuân thủ các chuẩn mực xuất bản quốc tế

    PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi: Hướng tới Scopus cần bắt đầu từ việc tuân thủ các chuẩn mực xuất bản quốc tế

    Phát biểu tại Hội thảo chuyên đề “Phát triển Tạp chí khoa học nông nghiệp và môi trường tiếng Anh theo tiêu chuẩn quốc tế, định hướng chỉ mục vào Scopus” ngày 17/6, PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, để được các cơ sở dữ liệu quốc tế uy tín công nhận, Tạp chí không chỉ cần nâng cao chất lượng học thuật mà còn phải chuẩn hóa toàn diện quy trình quản trị, biên tập và xuất bản theo thông lệ quốc tế.

  • Đậu ngồi: Hành trình từ nghiên cứu đến đồng ruộng

    Đậu ngồi: Hành trình từ nghiên cứu đến đồng ruộng

    Giống đậu rau mới mở hướng sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị trên đồng đất nông nghiệp.

  • Biến "xà bần" thành tài nguyên: Vinamac và lời giải cho bài toán kinh tế tuần hoàn tại TP. Hồ Chí Minh

    Biến "xà bần" thành tài nguyên: Vinamac và lời giải cho bài toán kinh tế tuần hoàn tại TP. Hồ Chí Minh

    Trong bối cảnh quỹ đất đổ thải cạn kiệt và chi phí logistics ngày càng đắt đỏ, việc tái chế chất thải xây dựng đã trở thành yêu cầu sống còn cho các đô thị lớn. Với giải pháp "mang trạm nghiền đến tận công trường" tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), TS. Phạm Văn Thắng – Chủ tịch kiêm CEO Công ty CP Tập đoàn Máy xây dựng Việt Nam (Vinamac) khẳng định rác thải xây dựng không còn là gánh nặng mà chính là nguồn tài nguyên thứ cấp vô giá, giúp nhà thầu tối ưu tới 50% chi phí…

  • GS, TS. Bùi Chí Bửu: Đưa Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường vào Scopus cần lộ trình thực tế và sự đầu tư bài bản

    GS, TS. Bùi Chí Bửu: Đưa Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường vào Scopus cần lộ trình thực tế và sự đầu tư bài bản

    Đóng góp ý kiến về Đề án phát triển Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường theo định hướng hội nhập quốc tế, GS, TS. Bùi Chí Bửu, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Công nghệ cao đồng bằng sông Cửu Long nhận định, mục tiêu đưa Tạp chí vào các cơ sở dữ liệu khoa học uy tín như Scopus là một hướng đi đúng đắn, thể hiện quyết tâm nâng tầm vị thế khoa học của ngành Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này cần một lộ trình phù hợp cùng sự đầu tư đồng bộ về nhân lực, học thuật và cơ chế vận hành.