Phòng, chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng người dân

Phòng, chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng người dân

Thứ năm, 24/9/2026, 11:26 (GMT+7)
logo Những tháng cuối năm 2026, thiên tai được nhận định tiếp tục diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường, với nguy cơ xuất hiện các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan, bão mạnh, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn. Mặc dù số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm, nguy cơ bão mạnh, rất mạnh, tăng cấp nhanh và có quỹ đạo phức tạp vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
1-1-1715328138_1789963105.jpg
Đắp đập ngăn dòng nước lũ

Theo nhận định của cơ quan khí tượng thủy văn (KTTV), năm 2026, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) trên khu vực Biển Đông có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm, với trung bình nhiều năm khoảng 12,7 cơn trên Biển Đông và 5,1 cơn đổ bộ vào đất liền. Số lượng này cũng được nhận định thấp hơn đáng kể so với năm 2025, là năm có số lượng bão và ATNĐ ở mức kỷ lục. Tuy nhiên, số lượng bão và ATNĐ không phải là yếu tố duy nhất quyết định mức độ rủi ro thiên tai. Cần đặc biệt lưu ý khả năng xuất hiện bão mạnh, rất mạnh, tăng cấp nhanh, tiềm ẩn nguy cơ siêu bão. Bên cạnh đó, quỹ đạo, thời điểm hoạt động và diễn biến cường độ của bão có thể phức tạp, gây khó khăn cho công tác dự báo và tổ chức ứng phó.

Trong bối cảnh đó, triển khai các nhiệm vụ phòng chống thiên tai (PCTT) những tháng cuối năm 2026 có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo đảm an toàn công trình, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Công tác này cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá đúng diễn biến thiên tai, chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và phát huy hiệu quả phương châm “4 tại chỗ”,... Quan điểm xuyên suốt trong công tác PCTT là lấy bảo vệ tính mạng người dân làm mục tiêu cao nhất của mọi chính sách và hành động. Do đó, mọi phương án ứng phó cần được đánh giá trên cơ sở ưu tiên bảo vệ con người, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và các hộ dân tại khu vực có nguy cơ cao.

Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác PCTT là tổ chức thực hiện đầy đủ, hiệu quả các văn bản pháp luật và chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về công tác này. Trong đó, cần triển khai Kết luận số 213-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách về PCTT cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với yêu cầu quản trị rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Trọng tâm là rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, vận hành hồ chứa và bảo đảm an toàn vùng hạ du. Trong đó, cần nghiên cứu, thực hiện nguyên tắc ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để cắt lũ cho hạ du, đồng thời bảo đảm an toàn công trình, cấp nước và các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp, bảo đảm hệ thống chỉ đạo, chỉ huy thông suốt, hoạt động hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Đặc biệt, cần củng cố năng lực của lực lượng ở cấp xã, nơi trực tiếp nắm bắt tình hình dân cư, địa bàn và tổ chức ứng phó ban đầu khi thiên tai xảy ra.

Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu thiên tai

Cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tổ chức đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về PCTT; đồng thời xây dựng Kế hoạch PCTT quốc gia và kế hoạch PCTT các cấp giai đoạn 2026–2030. Việc đánh giá cần làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, từ đó xác định các nhiệm vụ ưu tiên nhằm nâng cao năng lực phòng ngừa và ứng phó trong giai đoạn tiếp theo.

Các bộ, ngành, địa phương cần rà soát, cập nhật, bổ sung phương án ứng phó thiên tai chi tiết, bám sát thực tế. Đặc biệt, xây dựng các kịch bản ứng phó với những tình huống thiên tai lớn, trên diện rộng, tương đương các trận bão, lũ lịch sử đã xảy ra trong thời gian qua. Kịch bản phải xác định rõ các cấp độ rủi ro, khu vực có khả năng bị ảnh hưởng, đối tượng dễ bị tổn thương, nhu cầu sơ tán, lực lượng, phương tiện, vật tư và cơ chế phối hợp.

Công tác kiểm tra chuẩn bị ứng phó thiên tai cần được triển khai thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm. Nội dung kiểm tra tập trung vào hệ thống đê điều, hồ đập, công trình PCTT, công trình thủy lợi, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống thông tin liên lạc, lưới điện, cơ sở y tế, giáo dục và các công trình hạ tầng thiết yếu khác.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, cần kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế và nguy cơ mất an toàn. Đối với các công trình xung yếu, phải xác định rõ trách nhiệm quản lý, phương án xử lý sự cố, lực lượng ứng cứu và nguồn vật tư dự phòng. Các công trình có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản của người dân cần được ưu tiên xử lý trước mùa thiên tai.

Đối với hệ thống hồ chứa, cần kiểm tra an toàn đập, thiết bị vận hành, khả năng xả lũ, phương án ứng phó tình huống khẩn cấp và sự phối hợp giữa chủ hồ với chính quyền địa phương vùng hạ du. Việc vận hành hồ chứa, liên hồ chứa phải bảo đảm an toàn công trình, an toàn hạ du và phù hợp với diễn biến thực tế của mưa, lũ, nguồn nước.

Phòng, chống thiên tai cần được lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án đầu tư của các bộ, ngành, địa phương. Đây là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế phát sinh rủi ro mới, nâng cao khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng và bảo đảm phát triển bền vững. Trong quá trình lập, thẩm định và triển khai các quy hoạch, dự án đầu tư, cần đánh giá đầy đủ nguy cơ thiên tai và tác động của BĐKH. Các khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, sân bay, hệ thống logistics, vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản và các công trình năng lượng, cấp nước, giao thông cần được xây dựng phương án bảo đảm an toàn, duy trì hoạt động và phục hồi nhanh sau thiên tai.

Đồng thời, tăng cường nguồn lực đầu tư cho PCTT, ưu tiên các công trình phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro, hạ tầng chống chịu, hệ thống cảnh báo sớm, công trình thoát lũ, xử lý sạt lở và bố trí dân cư an toàn. Điển hình như, khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tiếp tục hoàn thiện các định hướng, giải pháp ứng phó với sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn. Các giải pháp cần gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo vệ hệ sinh thái, tổ chức không gian phát triển và bố trí dân cư phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa bàn.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo

Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được cụ thể hóa trong lĩnh vực PCTT. Trọng tâm là tháo gỡ các rào cản trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, vật liệu mới và giải pháp kỹ thuật phục vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng đối với các loại hình thiên tai phổ biến ở Việt Nam, bao gồm bão, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và sụt lún. Các nghiên cứu cần hướng tới nâng cao hiểu biết về cơ chế hình thành, diễn biến và tác động của thiên tai; xây dựng các công cụ đánh giá rủi ro; phát triển giải pháp công trình và phi công trình phù hợp với đặc thù từng vùng.

Đồng thời, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở dữ liệu PCTT và cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Cơ sở dữ liệu cần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, liên thông và khả năng chia sẻ giữa các cơ quan, đơn vị. Nội dung dữ liệu cần bao gồm thông tin về thiên tai, bản đồ rủi ro, dân cư, công trình xung yếu, lực lượng, phương tiện, vật tư, nơi sơ tán và các nguồn lực phục vụ ứng phó.

Tăng cường thông tin truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng, thông tin truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng là một trong những giải pháp nền tảng nhằm chuyển hóa thông tin dự báo, cảnh báo thành hành động phòng ngừa và ứng phó cụ thể. Cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí để truyền tải kịp thời thông tin về tình hình thiên tai, công tác chỉ đạo ứng phó và khắc phục hậu quả đến các cấp chính quyền và người dân.

Tăng cường chỉ đạo, điều hành, ứng phó hiệu quả

Công tác trực ban, theo dõi và cập nhật tình hình thời tiết, thiên tai cần được tổ chức nghiêm túc, liên tục, bảo đảm khả năng tham mưu “từ sớm, từ xa”. Các cơ quan chức năng cần chủ động theo dõi diễn biến thiên tai, kịp thời đề xuất các biện pháp ứng phó, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản.

Đối với các trận thiên tai lớn, tổ chức ứng phó theo kịch bản, bảo đảm sự phối hợp thống nhất giữa các lực lượng, các cấp và các địa phương. Việc chỉ đạo vận hành hồ chứa, liên hồ chứa phải được thực hiện chủ động, bám sát diễn biến mưa, lũ, bảo đảm an toàn công trình và hạ du. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành; tổ chức tập huấn, huấn luyện kỹ năng PCTT và trang bị công cụ, dụng cụ, phương tiện cho đội xung kích PCTT cấp xã. Lực lượng tại chỗ cần có khả năng thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như cảnh báo, sơ tán, cứu hộ ban đầu, hỗ trợ người dân, bảo vệ công trình và phối hợp với lực lượng chuyên nghiệp.

Đồng thời, đầu tư hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhất là trong các tình huống thiên tai lớn trên biển và đất liền. Đối với vùng sâu, vùng xa, khu vực dễ bị chia cắt, cô lập, có phương án bảo đảm tiếp cận, tìm kiếm cứu nạn và cung cấp nhu yếu phẩm thiết yếu trong điều kiện giao thông, điện, thông tin liên lạc bị gián đoạn.

Các nhiệm vụ được định hướng là chủ động, cụ thể hóa trách nhiệm và bảo đảm an toàn nhân dân. Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát, cập nhật kịch bản ứng phó với các loại hình thiên tai, bao gồm hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước, cháy rừng, bão mạnh, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng đô thị, sự cố hồ đập và đê điều. Kịch bản phải được xây dựng chi tiết, khả thi, phù hợp với đặc thù từng vùng, từng địa bàn và từng khu dân cư có nguy cơ chịu ảnh hưởng cao.

pctt_1789971007.jpg
Ảnh minh họa

Các địa phương tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc bảo đảm chất lượng, tiến độ các dự án bố trí, sắp xếp ổn định dân cư vùng thiên tai; khắc phục, sửa chữa các công trình PCTT, đê điều, hồ chứa và hạ tầng thiết yếu bị hư hỏng do bão, lũ gây ra. Đồng thời, kiểm tra việc quản lý, phân bổ và sử dụng các nguồn lực hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng, công khai, minh bạch và hiệu quả. Cấp xã nắm chắc từng hộ dân trong khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở, ngập sâu và các loại hình thiên tai khác. Phương án sơ tán phải xác định rõ đối tượng ưu tiên, lộ trình, phương tiện, lực lượng hỗ trợ và nơi trú tránh. Bảo đảm các điều kiện thiết yếu tại nơi sơ tán như nước sạch, thuốc men, điện, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự.

Nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và giám sát thiên tai

Một trong những định hướng quan trọng là nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và truyền tin đến người dân. Cần chuyển mạnh từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động, cụ thể đến từng địa bàn, xác định khu vực có thể ngập, xã có nguy cơ bị chia cắt, hồ chứa cần theo dõi, tuyến đường có khả năng bị cấm và hộ dân cần sơ tán.

Việc truyền tin kết hợp đa dạng các kênh, bao gồm chính quyền, tổ chức đoàn thể, truyền hình, phát thanh, hệ thống loa truyền thanh, tin nhắn, mạng xã hội và các hình thức phù hợp khác. Nội dung cảnh báo phải rõ ràng, dễ hiểu, nêu cụ thể nguy cơ, thời gian, địa điểm và hành động cần thực hiện.

Nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và theo dõi, giám sát thiên tai là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức ứng phó chủ động. Trong những tháng cuối năm 2026, tiếp tục đẩy mạnh triển khai quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia, tăng cường và mở rộng mạng lưới quan trắc, đặc biệt là mạng radar thời tiết.

Việc phát triển mạng lưới quan trắc cần gắn với yêu cầu giám sát các hiện tượng thời tiết nguy hiểm, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, bão và các hiện tượng KTTV cực đoan. Đồng thời, cần nâng cao khả năng tích hợp dữ liệu quan trắc, dữ liệu địa hình, dữ liệu dân cư, cơ sở hạ tầng và thông tin rủi ro nhằm hỗ trợ công tác phân tích, dự báo và ra quyết định.

Phát triển, hoàn thiện hệ thống mô hình và công nghệ dự báo tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ AI có thể hỗ trợ xử lý dữ liệu lớn, nhận diện quy luật, nâng cao năng lực phân tích và hỗ trợ dự báo các hiện tượng phức tạp. Tuy nhiên, việc ứng dụng cần được thực hiện trên cơ sở kiểm chứng khoa học, đánh giá độ tin cậy và kết hợp với chuyên môn của các cơ quan dự báo KTTV. Xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống hỗ trợ vận hành hồ chứa trên nền tảng số. Hệ thống này cần hỗ trợ cập nhật dữ liệu mưa, dòng chảy, mực nước, dung tích hồ, dự báo lũ và các thông tin liên quan nhằm nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du.

Phương Đông